Việt Nam có thoát khỏi cảnh làm trâu ngựa “gia công” cho thế giới không?
Một hãng gia công may áo quần xuất khẩu ở thành phố Sài Gòn Việt Nam (Ảnh: internet)
Có nhiều bài viết trên các báo của nhà nước CSVN và một số báo ngoại quốc mà ký giả bị mờ mắt khi đã đến thăm Việt Nam, đã ca ngợi kinh tế Việt Nam phát triển “thần tốc”.
Chỉ cần một câu hỏi là “cháy nhà lòi mặt chuột” ra ngay. Điều gì quyết định sự phát triển kinh tế của Việt Nam? Muốn biết sự thật thì phải nhìn vào sự thật để trả lời.
Có thể khẳng định rằng Việt Nam đang phụ thuộc rất cao vào đầu tư nước ngoài. Đó là FDI (Foreign Direct Investment/công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam), nói nôm na là vốn nước ngoài mang tiền vào Việt Nam để mở công ty, xây công xưởng và chủ điều hành công việc sản xuất; thuê công nhân người Việt làm công.
Có 70% hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đi từ nguồn vốn FDI
1) Những nước nào có FDI lớn ở Việt Nam?
Đứng đầu là Nam Hàn, chiếm 30% GDP của Việt Nam. Thật nguy hiểm khi nền kinh tế của nước Việt Nam phụ thuộc 30% vào Nam Hàn. Đó là bàn tay bí mật nắm giữ vận mệnh của nền kinh tế Việt Nam. Nếu một ngày nào đó công ty Nam Hàn rút đi thì nền kinh tế Việt Nam sẽ gặp nguy khốn!
Hiện Samsung có những nhà máy sản xuất điện tử lớn, có cả một trung tâm nghiên cứu và phát triển (Research and Development) tại Hà Nội, cùng những công ty Nam Hàn khác. Samsung có những chi nhánh rất lớn, với công nhân cả chục ngàn người, lắp ráp điện tử tại Việt Nam.
– Samsung Electronics Vietnam ở tỉnh Bắc Ninh (SEV);
– Samsung Electronics Vietnam ở Thái Nguyên (SEVT);
– Samsung Electronics ở thành phố Sài Gòn (SEHC);
– Samsung Display Vietnam làm những màn hình ở Bắc Ninh (SDV);
– Samsung R&D (Research and Development) tại thủ đô Hà Nội có chừng 3.000 kỹ sư làm việc, là trung tâm nghiên cứu lớn nhất của Samsung ở Đông Nam Á.
Ngoài những trung tâm đó của Samsung, Nam Hàn còn có các công ty khác như:
– Hanwha Techwin làm máy thu hình rà soát an ninh ở Bắc Ninh, Hà nội và Sài Gòn
– Công ty Amkor Technologies tại tỉnh Bắc Ninh đầu tư hằng tỉ USD,
– Công ty Hyosung tại tỉnh Đồng Nai sản xuất vật liệu công nghiệp, sợi, hóa chất.
Ngoài ra, Samsung đang mở rộng sang lĩnh vực AI và chất bán dẫn tại Việt Nam.
Công ty Samsung ở Thái Nguyên, Việt Nam (SEVT)
Công ty Samsung làm máy điện thoại tại Việt Nam chiếm 50% tổng sản lượng điện thoại Samsung bán ra trên toàn thế giới.
Tổng số những công ty Nam Hàn với số vốn đầu tư hằng năm chừng 92 tỉ USD (chiếm gần 1/3 GDP của VN).
Thứ hai, sau Samsung là công ty Intel của Hoa Kỳ: Intel từng chiếm khoảng 50–70% hàng điện tử xuất khẩu của khu kỹ thuật công nghệ cao tại Thành phố Sài Gòn. Nhà máy của Intel ở Thành phố Sài Gòn chuyên lắp ráp các linh kiện điện tử, kiểm soát chất lượng lần cuối (assembly & test) và cho vào bao bì trước khi gửi hàng đi nước ngoài. Có thời gian Intel chiếm khoảng 15% số lượng xuất khẩu linh kiện điện tử của Việt Nam bán ra nước ngoài.
Năm 2006, Intel bỏ ra khoảng 300 triệu USD để xây dựng thêm nhà máy lắp ráp và kiểm soát sản lượng tại thành phố Sài Gòn.
Ngoài ra, danh hiệu Intel còn giúp Việt Nam thu hút các công ty FDI kỹ thuật công nghệ cao khác của Mỹ đầu tư vào Việt Nam.
Thứ ba là công ty Foxconn (Đài Loan) đã đầu tư vào Việt Nam từ năm 2007 và hiện tổng vốn khoảng 4 tỷ USD.
Các địa điểm đầu tư chính của Foxconn, Đài Loan tại Việt Nam:
a) Ở Bắc Ninh, đây là trung tâm sản xuất lớn nhất của Foxconn ở Việt Nam, sản xuất điện thoại, linh kiện điện tử, các thiết bị cho các hãng Apple và Microsoft.
b) Ở Bắc Giang: Foxconn có nhiều nhà máy tại khu công nghiệp ở xã Quang Châu, tỉnh Bắc Giang. Năm 2024–2025 còn mở rộng thêm dự án làm chip điện tử trị giá khoảng 80 triệu USD
c) Ở Quảng Ninh: Foxconn đầu tư vào lắp ráp linh kiện điện dùng trong xe chạy bằng điện (electric vehicle) và những thiết bị viễn thông gồm: 2 dự án mới trị giá hơn 246 triệu USD năm 2023 và khoảng 551 triệu USD năm 2024 để làm ra sản phẩm giải trí thông minh và thiết bị hệ thống AI.
d) Ở Nghệ An: Foxconn xây dựng nhà máy sản xuất phụ kiện điện tử tại Warehouse Asia Alliance (WHA) Industrial Zone với vốn từ 100 triệu đến 200 triệu USD.
Những nhà máy của Foxconn chuyên lắp ráp linh kiện cho iPhone và iPad, lắp ráp thiết bị viễn thông, lắp ráp mạch điện tử theo đơn đặt hàng, lắp ráp những mặt hàng nghe ở tai không có dây.
Công ty Foxconn ở Thái Nguyên Việt Nam (Nguồn: Internet)
Đó là ba công ty tiêu biểu cho FDI đầu tư vào Việt Nam. Ngoài ra, Nhật, Singapore, Thái Lan, các công ty ở châu Âu đều có mặt tại Việt Nam. Họ đến Việt Nam để tận dụng nhân công rẻ, còn kỹ thuật và điều hành sản xuất do các công ty FDI quyết định; như vậy thì Việt Nam chỉ làm thuê với những việc không quan trọng cần bàn tay của công nhân. Nói rõ hơn, Việt Nam là khâu “lắp ráp cuối” trong chuỗi tạo ra sản phẩm.
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam chỉ “lấy công làm lời”, “làm thuê để sống”, các thứ vốn (vốn tiền, vốn trí tuệ con người và điều hành) đều phụ thuộc vào công ty FDI nước ngoài.
Còn nữa, những mặt hàng Việt Nam làm ra (như giày dép, áo quần) thì cũng phụ thuộc vào nguyên vật liệu đầu vào mua từ Trung Cộng. Việt Nam mua những linh kiện điện tử, nguyên vật liệu dệt may, máy may, vải và cả kim chỉ.
2) Việt Nam có thể thoát khỏi cảnh “gia công” hay không?
Muốn thoát khỏi “kiếp trâu ngựa” làm “gia công” cho nước ngoài, xem Việt Nam có những điều kiện ắt có và đủ:
– Có thương hiệu toàn cầu không?
– Có tự thiết kế sản phẩm?
– Có sở hữu nhiều bằng sáng chế?
– Có kiểm soát kỹ thuật công nghệ chính?
– Có tạo ra tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ riêng cho Việt Nam?
Chúng ta xét từng điểm, một cách khách quan, thử xem Việt Nam có thể thoát khỏi kiếp trâu ngựa “gia công” từ đời này sang kiếp khác?
1) Có những thương hiệu toàn cầu không? Ở Nhật có Toyota, Honda, Sony; ở Nam Hàn có Samsung, Hyundai, LG; ở Đài Loan có TSMC, công ty kỹ thuật công nghệ làm chip tối tân… đó là những thương hiệu toàn cầu của Nhật, Nam Hàn và Đài Loan mà thế giới ai cũng biết. Muốn đứng lên làm sản phẩm công nghệ toàn cầu, trước hết cần làm chủ thiết kế (design) mà chưa ai từng sở hữu, rồi chế tạo những sản phẩm đó bán ra trên thế giới giá phải chăng, lâu dần sẽ được tín nhiệm bởi khách hàng, gọi là thương hiệu. Ở điểm này, đội ngũ research (nghiên cứu) và development (thực hiện) ở Việt Nam còn quá kém, vì bao năm nền giáo dục tại Việt Nam chủ yếu đặt nặng về chủ thuyết Mác-Lênin và coi nhẹ về khoa học kỹ thuật.
2) Có tự thiết kế sản phẩm nào có tiếng cho Việt Nam? Hiện nay chưa thấy có một sản phẩm nào nổi tiếng bán trên thị trường thế giới với “Made in Việt Nam”. Tuy nhiên, có một sản phẩm tương đối có tiếng thuộc lĩnh vực ăn chơi là game “Axie Infinity”. Game này được viết bằng kỹ thuật lập trình (software). Như vậy, người Việt có khả năng về software. Hãy cố gắng phát triển lĩnh vực này theo cách của người Ấn Độ. Họ rất có khả năng viết lập trình. Hiện nay, cả thế giới ưu ái ký hợp đồng (contract) lập trình với kỹ sư Ấn Độ.
3) Có sở hữu nhiều bằng sáng chế ở Việt Nam không? Theo những thông tin thì Việt Nam sở hữu bằng sáng chế phần lớn là “ăn cắp sở hữu trí tuệ của nước ngoài”, rồi sao chế làm của mình nên những bằng sáng chế bị trả lại. Thí dụ, ChatGPT đã đưa tin là vào năm 2022 Việt Nam nộp 8707 bằng sáng chế, trong đó có 7812 là sở hữu trí tuệ của người nước ngoài. Phía Việt Nam chỉ còn lại khoảng 10% bằng sáng chế phát minh tại Việt Nam. Từ lúc có bằng sáng chế đến chế tạo thành sản phẩm tiêu dùng phải qua thời gian rất dài. Với những bằng sáng chế ít ỏi đó, cộng thêm nhà nước CSVN không hứng thú đầu tư vào việc biến sáng tạo thành hiện thực. Do đó, không có một chút hy vọng nào rằng Việt Nam thành công trong lĩnh vực này.
3) Việt Nam có kiểm soát kỹ thuật công nghệ chính? Việt Nam có khoảng cách rất xa so với các cường quốc có kỹ thuật công nghệ thực thụ. Một điểm cốt lõi: Việt Nam muốn làm ra chip bán dẫn phức tạp thì phải có máy EUV (Extreme Ultraviolet), là máy dùng cho công nghệ khắc quang học cực tím; máy chính dùng để chế tạo chất bán dẫn. EUV xử dụng ánh sáng có độ bước sóng 13,5 nm (1 nanometer = 0,000000001 meter) để in các chi tiết siêu nhỏ và phức tạp của những chip điện tử đời mới thiết kế với 7 nm, 5 nm, 3 nm, 2 nm. EUV được sản xuất độc quyền bởi công ty của Hà Lan với giá rất cao. Các hệ thống EUV giúp tạo ra những con chip chạy nhanh hơn và dùng năng lượng ít hơn, đặc biệt dùng trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI) và điện thoại thông minh. Hiện nay Việt Nam không đủ khả năng mua EUV (giá chừng 400 triệu USD/một máy) và cũng không đủ trình độ sử dụng loại máy này.
4) Việt Nam có thể tạo tiêu chuẩn công nghệ riêng cho mình hay chưa? Muốn tạo một tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ riêng hãy nhìn vào những công ty tiêu bỉểu trên thế giới như:
– Qualcomm của Mỹ có nhiều bằng sáng chế về kỹ thuật 5G, do đó họ làm tiêu chuẩn về 5G.
– Công ty Intel của Mỹ sáng tạo ra chip microprocessor làm tiêu chuẩn cho CPU (Central Processing Unit)…
Ở lĩnh vực này, Việt Nam còn thua xa các quốc gia kỹ nghệ trên thế giới. Việt Nam đang chạy theo học hỏi mà chưa kịp thì không thể nào đi trước trong chế tạo kỹ thuật công nghệ riêng cho mình được.
Qua những nhận xét trên, thấy Việt Nam khó thoát khỏi cảnh “gia công” cho thế giới trong nhiều thế hệ. Tệ hơn nữa, sáng tạo thì ít, mà việc đánh cắp sản phẩm trí tuệ thì nhiều. Vào đầu tháng 5 năm 2026, đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã xếp Việt Nam vào danh sách các “nước cao nhất” đối với hành vi đánh cắp sở hữu trí tuệ (IP).
Hoa Kỳ, ngày 9 tháng 5 năm 2026
Lê Thành Nhân

