Càng ngày càng nhều bình luận bất lợi cho hô hào chiến thắng của Mỹ đối với Iran
Ông Sefa Yürükel
Lời người post: Nhà xã hội và nhân chủng học Sefa Yürükel, thạc sĩ người Đan Mạch, có một bài phân tích được phổ biến rộng rãi trên các mặt báo, kết luận rằng: Chiến thắng ngoại giao của Iran; Tại sao Mỹ và Do Thái thất bại trong bản ghi nhớ (MoU) được ký tại Genève [ngày 19/0/2026]. Bài bình luận đi sát với thực tế. Qua từng điểm phân tích việc thắng/thua giữa Mỹ, Do Thái và Iran được phiên dịch sau đây:
Cuộc xung đột quân sự giữa Mỹ và Iran bắt đầu vào ngày 28/02/2026, kéo dài hai tháng và kết thúc bằng lệnh ngừng bắn vào ngày 8/04 cùng năm. Tuy nhiên, bước ngoặt thực sự quyết định lại nằm ở bản ghi nhớ (MoU) gồm 14 điều khoản dự kiến được ký kết tại Genève vào ngày 19/06/2026. Văn bản này vốn bị lộ ra bởi tờ báo Bloomberg và Al Arabiya (một công ty phát thanh ở Trung Đông), được dư luận quốc tế nhìn nhận là một “chiến thắng ngoại giao của Iran”. Bản ghi nhớ cho thấy rõ rằng Mỹ và Do Thái là bên khởi xướng cuộc chiến đã thất bại trong việc đạt được những mục tiêu ban đầu; trái lại, họ còn phải công nhận Iran là một bên hợp pháp trên bàn đàm phán quốc tế.
Chính quyền Mỹ và Do Thái đã bước vào cuộc xung đột ưu tiên với những yêu sách: thay đổi chế độ và chấm dứt hoàn toàn chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử của Iran, nhưng cuối cùng lại rời bàn đàm phán với hai bàn tay trắng. Trong khi đó, Do Thái bị gạt ra khỏi tiến trình đàm phán này. Cho nên buộc phải xem xét lại học thuyết quốc phòng của mình khi chứng kiến đồng minh thân cận nhất của mình đã bỏ họ bên lề khi tiến hành đàm phán với Iran.
Những lợi ích chiến lược Iran đạt được nhờ bản ghi nhớ:
Mười bốn điều khoản này tạo nên một khuôn khổ bảo đảm những “lằn ranh đỏ” của Iran.
– Điều khoản đầu tiên, bên cạnh việc quy định chấm dứt thù địch trên mọi mặt trận, trực tiếp bao gồm cả mặt trận Lebanon. Như vậy, ngầm công nhận tính chính danh của Hezbollah. Điều này cho thấy tầm ảnh hưởng của Iran đối với các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực đã được thừa nhận trên bình diện quốc tế.
– Điều khoản thứ hai nhấn mạnh nguyên tắc chủ quyền của Iran và việc Hoa Kỳ không can thiệp vào công việc nội bộ của Iran. Điều này đã chính thức hóa việc Hoa Kỳ thực sự từ bỏ mục tiêu thay đổi chế độ mà họ đặt lúc đầu cuộc chiến. Thông qua điều khoản này, Iran đã vô hiệu hóa mối đe dọa thay đổi chế độ thần quyền lớn nhất đối với thể chế Hồi giáo “Khamenei”.
– Liên quan đến hồ sơ nguyên tử, các nghị định thư kín được cho là quy định mức làm giàu uranium cố định ở mức 3.67% và Mỹ yêu cầu pha loãng các kho dự trữ hiện làm giàu uranium đến 60% xuống độ tinh khiết trên 20%. Tuy nhiên, trước khi chiến tranh nổ ra, Mỹ từng yêu cầu Iran phải chấm dứt hoàn toàn các hoạt động vũ khí nguyên tử. Với nội dung hiện tại, bản ghi nhớ MoU thực tế đã công nhận quyền làm giàu uranium của Iran và cho phép nước này duy trì kho dự trữ uranium ở mức độ nào đó.
– Quan trọng hơn cả, chương trình hỏa tiễn đạn đạo tầm trung và tầm xa và hỗ trợ các mạng lưới ủy nhiệm trong khu vực đã bị loại hẳn khỏi bản ghi nhớ MoU. Iran không từ bỏ năng lực hỏa tiễn hay ngừng hỗ trợ quân sự cho Hezbollah, Hamas và lực lượng Houthi. Việc bỏ sót vấn đề này đã cho phép Iran duy trì các công cụ vệ tinh chiến lược quan trọng nhất của mình sau này. Những điều này không thấy nhắc đến trong MoU sẽ được ký ngày 19/06!
– Trên mặt trận kinh tế, Iran đã có được số tài chánh lớn để gia tăng xuất khẩu dầu thô, song hành với việc các lệnh trừng phạt dần dần được dỡ bỏ và có những tín hiệu cho thấy nước này sẽ tái gia nhập hệ thống SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication / Hệ thống tài chính viễn thông ngân hàng toàn cầu).
– Việc tiếp cận trở lại các thị trường năng lượng quốc tế mang đến cơ hội rất tốt để vực dậy nền kinh tế vốn đã chịu nhiều tổn hại bởi các cuộc không kích của Mỹ và Do Thái đối với Iran. Hơn nữa, tính chính danh về mặt ngoại giao mà bản ghi nhớ mang lại đã củng cố vị thế của Iran trong tiến trình bình thường hóa quan hệ với Saudi Arabia, đồng thời tạo ra lợi thế tâm lý trước Ả Rập Xê Út.
Bạo quyền Iran vẫn coi văn bản MoU này là một “chiến thắng lịch sử” của họ.
Những tổn thất chiến lược và cuộc khủng hoảng uy tín của Mỹ:
Ngay từ khi cuộc chiến mới bắt đầu, Hoa Kỳ đã đặt ra ba mục tiêu chính:
– Ngăn chặn vĩnh viễn chương trình nguyên tử của Iran,
– Tạo tiền đề cho việc thay đổi chế độ,
– Bảo đảm khả năng răn đe để trấn an các đồng minh trong khu vực.
Bản ghi nhớ gồm 14 điều khoản cho thấy không có mục tiêu nào trong số đó đạt được kết quả cụ thể. Thêm nữa, Mỹ đã nhượng bộ trong vấn đề nguyên tử, chính thức từ bỏ mục tiêu thay đổi chế độ và chấp nhận Iran như một đối tượng ngồi ngang hàng trên bàn đàm phán. Tình thế này đã giáng một đòn mạnh vào năng lực răn đe của Mỹ tại Trung Đông.
Những lời lẽ gay gắt của Donald Trump trong thời gian diễn ra cuộc chiến và những tuyên bố sẽ “khuất phục Iran” đã trở nên thiếu ý nghĩa trước bản ghi nhớ (MoU) này. Phạm vi ảnh hưởng chính trị của TT Trump cũng thu hẹp lại. Khó có thành quả nào để tận dụng cho chiến dịch tranh cử tháng 11 năm nay. Những sự thật rõ ràng ngầm thừa nhận kết cục của cuộc chiến mà chính quyền của Tổng thống Trump đã khởi xướng. Việc Đảng Cộng hòa quyết định tách hình ảnh Trump khỏi các tài liệu vận động tranh cử trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ là điều chứng minh niềm tin vào năng lực của ông Tổng thống một Chủ tịch Đảng bị suy giảm.
Quan trọng hơn, uy tín của Mỹ đã bị tổn hại nặng nề trong mắt các nước liên quan tại khu vực, đặc biệt là các đồng minh vùng Vịnh. Tình trạng này, đang có đầy uy tín nay được các liên minh gọi là “sự bất định về cam kết”, đã gây suy yếu chiến lược dựa dẫm vào siêu cường đối với các nước nhỏ. Nhận thấy quyết tâm của Mỹ trong việc đối phó với Iran đáng nghi ngờ, Ả Rập Xê-út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) cảm thấy cần phải theo đuổi chính sách đa chiều. Như vậy, thông qua bản ghi nhớ này, Mỹ đã đánh mất lợi thế chiến lược quan trọng nhất của mình tại Trung Đông: sự bảo đảm vô điều kiện dành cho đồng minh của mình bấy lâu nay bỏ hàng ngàn tỉ USD đầu tư vào Hoa Kỳ, nay bị lung lay!
Cuộc khủng hoảng răn đe và sự cô lập chiến lược của Do Thái:
Đối với Do Thái, bản ghi nhớ này đã khơi dậy lại sự “đơn độc”, của quốc gia này. Việc Mỹ trực tiếp đàm phán với Iran một mình đã làm lung lay sâu sắc niềm tin của Do Thái vào người đồng minh thân cận nhất và đóng vai đắc lực nhất của Mỹ tại Trung Đông. Chính phủ của ông Netanyahu đã đánh mất tính chính danh trong chính sách đối ngoại mà họ dày công xây dựng suốt nhiều năm qua với mối quan hệ cá nhân với Tổng thống Trump. Các cuộc thăm dò nội bộ của đảng Likud (đảng chính trị cánh hữu lớn ở Do Thái và là một trong những lực lượng chính trị có ảnh hưởng nhất nước này từ thập niên 1970 đến nay) cho thấy yếu tố Trump không còn khơi dậy sự ủng hộ tích cực nữa, mà thay vào đó lại bị cử tri quyết định coi là một “yếu tố rủi ro”. Ông Netanyahu buộc phải từ bỏ việc nhấn mạnh vào “mối quan hệ đặc biệt với Mỹ” trong các thông điệp tranh cử và chuyển hướng sang các khái niệm như “ngành công nghiệp quốc phòng nội địa” và “sự độc lập về kỹ thuật công nghệ quốc phòng”.
Bản ghi nhớ MoU không đề cập đến chương trình hỏa tiễn đã trực tiếp đe dọa Do Thái tại mặt trận phía bắc. Kho hỏa tiễn dẫn đường chính xác của Hezbollah và sự hiện diện quân sự của Iran tại Syria đều nằm ngoài các cam kết bảo đảm an ninh của thỏa thuận MoU. Trong các phiên thảo luận tại Quốc hội Do Thái, lãnh đạo phe đối lập Yair Lapid đã cáo buộc ông Netanyahu thất bại trong công tác chiến lược, trong khi các cựu bộ trưởng quốc phòng nhận định rằng thỏa thuận này làm suy yếu đáng kể ưu thế quân sự của Do Thái. Các cựu lãnh đạo tình báo của Lực lượng Phòng vệ Do Thái đã cảnh báo rằng khoảng trống ngoại giao mà bản ghi nhớ mang lại cho Iran sẽ càng củng cố sự hiện diện quân sự của Iran tại Syria và Lebanon.
Sự ủng hộ vô điều kiện mà ông Netanyahu kỳ vọng vào Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh không thành hiện thực, cùng với việc quan điểm của Do Thái bị phớt lờ trong quá trình soạn thảo bản ghi nhớ MoU, cho thấy một sự rạn nứt trong sự hợp tác chiến lược giữa hai nước. Do Thái buộc phải thừa nhận rằng Mỹ sẽ không còn ưu tiên các lợi ích của họ trong vấn đề Iran. Tình trạng này buộc Do Thái phải định hình lại học thuyết quốc phòng và mở đường cho việc tìm kiếm các liên minh mới trong khu vực Trung Đông.
Bản đồ mới về thế cân bằng ba bên, sự trỗi dậy của Iran:
Bức tranh địa chính trị đang hình thành cho thấy một sự thay đổi cán cân quyền lực, trong đó Iran là bên thắng thế rõ rệt. Iran đã đạt được tính chính danh trong vấn đề nguyên tử, được nới lỏng các lệnh trừng phạt kinh tế, duy trì được mạng lưới các lực lượng ủy nhiệm trong khu vực và khẳng định vị thế ngang hàng trên trường quốc tế. Ngược lại, Mỹ đã thất bại trong việc đạt được các mục tiêu chiến tranh, đánh mất uy tín với đồng minh và làm suy yếu khả năng răn đe trong khu vực. Do Thái rơi vào cảnh bị đồng minh thân cận nhất bỏ rơi, mô hình an ninh bị lung lay dữ dội và năng lực duy trì ưu thế quân sự bị đặt dấu hỏi lớn?
Xét dưới góc độ lý thuyết, lợi ích thu được của các bên trở nên rõ ràng: Iran đã đạt được lợi ích tích cực trong một cuộc chơi có tổng bằng không (zero-sum). Tổn thất của Mỹ không chỉ giới hạn ở lĩnh vực ngoại giao và quân sự mà còn dẫn đến cuộc khủng hoảng về khả năng dự đoán và độ tin cậy của một siêu cường toàn cầu. Đối với Do Thái, tổn thất này mang tính sống còn, bởi an ninh quốc gia vốn được xây dựng trên nền tảng sự ủng hộ vô điều kiện từ Mỹ, nay họ buộc phải đối mặt với thực tế rằng sự ủng hộ đó không được bảo đảm nữa.
Kết luận:
Bản ghi nhớ Genève gồm 14 điều khoản đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới tại Trung Đông, và bên chiến thắng trong kỷ nguyên này rõ ràng là Iran. Từ vị thế bất lợi nhất khi cuộc chiến mới bắt đầu, Iran đã vươn lên và đạt được những thành quả quan trọng về mặt ngoại giao, kinh tế và chiến lược. Hoa Kỳ đã ra về tay trắng sau một tiến trình mà họ từng tham gia với những mục tiêu tối đa; uy tín của Mỹ bị tổn hại và niềm tin của các đồng minh dành cho họ cũng bị suy giảm… Do Thái rơi vào tình trạng bị cô lập chưa từng thấy, năng lực răn đe bị đặt dấu hỏi? Buộc phải tái định hình lại mô hình an ninh của mình. Kẻ thua cuộc thực sự chính là trật tự Trung Đông cũ vốn dựa trên sự bảo đảm đơn phương từ phía Hoa Kỳ. Sự trỗi dậy của Iran sẽ làm thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực trong những năm tới và sẽ thúc đẩy các nỗ lực hình thành liên minh mới trên phạm vi địa lý trải dài từ Trung Đông đến Địa Trung Hải. Những tổn thất chiến lược mà Hoa Kỳ và Do Thái phải gánh chịu dường như là vĩnh viễn, và hiện chưa thấy xuất hiện hành động ngoại giao hay quân sự nào có khả năng bù đắp cho những tổn thất này.
Tác giả: Sefa Yürükel: Là Thạc Sĩ người Đan Mạch, nhà dân tộc và xã hội học.
Các lĩnh vực nghiên cứu: Chính trị quốc tế, Luật quốc tế công cộng, Địa chính trị, Xã hội học, Tâm lý học, Nghiên cứu văn hóa, Hệ thống và Cấu trúc.
Phiên dịch: Hoàng Long
References:
– Waltz, K. N. (1979). Theory of International Politics. McGraw-Hill.
– Putnam, R. D. (1988). Diplomacy and domestic politics: The logic of two-level games. International Organization, 42(3), 427-460.
– Mearsheimer, J. J. (2001). The Tragedy of Great Power Politics. W.W. Norton.
International Crisis Group (ICG). (2024). Middle East Report: The New US-Iran Framework and Regional Security. Brussels.
– Knesset Research and Information Center. (2024). Analysis of the 14-Article Understanding: Implications for Do Thái’s National Security. Jerusalem.
Bloomberg News. (2026, June 19). US-Iran Draft Memorandum Surfaces Ahead of Geneva Signing. Bloomberg.
– Al Arabiya News. (2026, June 19). Leaked document reveals 14-point US-Iran understanding. Al Arabiya.

