Những ý kiến của các đồng minh châu Á Thái Bình Dương đối với NDS của Hoa Kỳ năm 2026

NDS (National Defense Security) của Hoa Kỳ năm 2026

Lời người post: Khi chiến lược An ninh Quốc phòng (NDS/National Defense Strategy) của Hoa Kỳ ra đời và  những tháng đầu năm 2026, các nhà nghiên cứu chiến lược châu Á gồm Nhật, Nam Hàn, Philippines, Úc, Đài Loan đều đã lên tiếng. Họ gửi về Trung tâm Atlantic Council đề nghị những gì còn khiếm khuyết để đối phó với ảnh hưởng của Trung Cộng trên Ấn Độ – Thái Bình Dương. Những đế nghị của họ đã được đưa lên trung tâm Atlantic counsil, một tổ chức chính trị vô vụ lợi, trụ sở tại Washington, D.C. Thành lập vào năm 1961, chuyên nghiên cứu về các vấn đề quốc tế, an ninh toàn cầu và địa chịnh trị, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa Hoa Kỳ và các đồng minh nhằm giải quyết an ninh khu vực và toàn cầu

Tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, nơi các đồng minh cùng chia sẻ mong muốn về một khu vực tự do và rộng mở, những đóng góp từ các đồng minh then chốt trong châu Á – Thái Bình Dương đóng vai trò răn đe và ngăn cản sự xâm lăng của Trung Cộng. Ngũ Giác Đài (Bộ Chiến tranh) đã công bố Chiến Lược Quốc phòng (NDS = National Defense Strategy) mới nhất trong năm  nay, trong đó nêu rõ cách tiếp cận của chính quyền Tổng Thống Trump đối với Trung Cộng tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Tài liệu này thu hút sự chú ý nhờ việc nhấn mạnh yêu cầu các đồng minh của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương cần tăng cường chi tiêu quốc phòng và đóng vai tích cực hơn trong việc bảo đảm an ninh khu vực. Các đồng minh của Mỹ trong khu vực có phản ứng như thế nào trước NDS của Mỹ? Các chuyên gia của các nước đồng minh về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ đưa ra những ý kiến ​​đóng góp quan trọng:

Từ Nhật

Chuỗi đảo thứ nhất, vòng đai  an ninh đầu tiên (First Island Chain) của Hoa Kỳ.

1) Ông Ryo Hinata-Yamaguchi chuyên gia nghiên cứu không thường trú của Atlantic Council, giáo sư Đại học Quốc tế Tokyo, chuyên nghiên cứu Diễn đàn ​​An ninh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở. Ông còn Nghiên cứu tại Trung tâm Chiến lược và An ninh cao cấp Ấn Độ – Thái Bình Dương đã đưa quan điểm đối với NDS của Hoa Kỳ:

Việc Chiến Lược An Ninh Quốc phòng (NDS) của Hoa Kỳ chú trọng vào việc các đồng minh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương mang lại sự an tâm cho Nhật Bản, song những lo ngại về các cam kết của NDS vẫn tồn tại.

Cờ Nhật bản

Đối với Nhật Bản, NDS mới của Hoa Kỳ cùng sự chú trọng vào việc hợp tác với các đồng minh tại Ấn Độ – Thái Bình Dương nhằm tăng cường “phòng thủ tập thể” tại chuỗi đảo thứ nhất đã mang lại phần nào sự an tâm. Tuy nhiên, NDS lần này làm nổi lên những lo ngại lâu nay về ý định và kỳ vọng của chính quyền Tổng Thống Donald Trump đối với các đồng minh ở châu Á Thái Bình Dương

Ở một mức độ nhất định, NDS đã giúp Nhật Bản cởi bỏ được phần nào lo âu, bởi trước đó từng có những lo ngại rằng chính quyền Trump tập trung vào chiến lược Tây Bán Cầu và “nhẹ tay” với Trung Cộng trong những tháng gần đây, sẽ ảnh hưởng đến các nỗ lực quốc phòng cũng như quan hệ của Washington tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Xét trên khía cạnh này, NDS mang lại dấu hiệu tích cực vì nó không hề hạ thấp mức độ ưu tiên đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Dẫu vậy, một số lo ngại vẫn tồn tại. Mặc dù NDS cho thấy Mỹ ngăn chặn hành động gây hấn từ phía Trung Cộng, nhưng vẫn còn nhiều điều chưa rõ ràng về lập trường của Washington đối với các tình huống “vùng xám” đang và sẽ tiếp tục xảy ra tại khu vực này. Hơn nữa, NDS còn thể hiện rõ yêu cầu các đồng minh và đối tượng phải “gánh vác phần trách nhiệm lớn hơn”, qua đó gây thêm áp lực buộc các quốc gia như Nhật Bản phải tăng ngân sách quốc phòng và đóng vai trò chủ động hơn. Kết hợp với chính sách “mơ hồ chiến lược” của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng và Bắc Hàn, Nhật Bản vẫn lo ngại về thời điểm và cách thức Washington sẽ phản ứng khẩn cấp như thế nào. Những sự mơ hồ và thiếu sót này làm suy yếu khả năng về mặt tác chiến và chiến thuật của liên minh song phương Mỹ – Nhật, cũng như hợp tác ba bên Mỹ – Nhật – Hàn và các khuôn khổ quan trọng khác tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Từ Nam Hàn

2) Tiến sĩ Bee Yun, Nam Hàn, nhà nghiên cứu cao cấp không thường trú của Atlantic Council , phụ trách về mặt chiến lược an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và nghiên cứu chiến lược an ninh tại Viện Sejong, Nam Hàn:

Từ góc nhìn của Seoul, có hai câu hỏi: “sự hỗ trợ quan trọng nhưng có giới hạn từ lực lượng Hoa Kỳ”“phòng thủ tập thể” chuỗi đảo thứ nhất.

Cờ Nam Hàn

Nếu tiền đề là Seoul—cùng các đồng minh khác trong khu vực, đảm nhận trách nhiệm chính trong lĩnh vực tác chiến, thì một câu hỏi đặt ra là liệu NDS có an ninh nguyên tử hay không (và nếu có, ở mức độ nào). Điều này không phải là một sự “thay đổi” về tuyên bố, nhưng lại là sự đề ra rõ rệt về mặt thực chất của Mỹ.

Mặc dù NDS đưa ra Chiến lược An ninh Quốc gia mới nhất của Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ đề ra chủ trương xây dựng “phòng thủ tập thể” trong khu vực, nhưng cả hai văn kiện này lại thiếu các chi tiết về cách thức Washington dự định hiện thực hóa chủ trương đó. Trong NDS nêu rõ rằng Hoa Kỳ sẽ “tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể để các đồng minh gánh vác phần lớn hơn trong nỗ lực phòng thủ tập thể, bao gồm thông qua việc hợp tác chặt chẽ về lập kế hoạch lực lượng và tác chiến, cũng như phối hợp sát sao để nâng cao khả năng chiến đấu của lực lượng các nước này cho những nhiệm vụ trọng yếu.” Tuy nhiên, văn kiện này lại tránh đề cập cụ thể đến các việc kết nối, như hợp tác ba bên Hàn–Mỹ–Nhật hay các khuôn khổ hợp tác nhóm nhỏ hoặc đa phương khác,vốn có thể đóng vai trò là chủ chốt để triển khai khái niệm này.

Dù vậy, tất cả những điều này không làm nghi ngờ về khả năng tiếp tục thích ứng của liên minh Hàn–Mỹ. Trái lại, việc NDS mô tả Seoul là một “đồng minh kiểu mẫu” càng củng cố thêm kỳ vọng đó. Tuy nhiên, chính vì các đối thủ chúng ta luôn tìm kiếm những khe hở, cho nên Hoa Kỳ và Hàn Quốc cần tăng cường chi tiết nữa về sự trao đổi thông tin, phối hợp và nhắn tín hiệu, để bảo đảm những thay đổi và điều chỉnh về thế trận nhằm lấp khoảng trống răn đe hoặc gây ra các hành động khiêu khích không cần thiết trong khu vực.

Từ Philippines

3)Tiến sĩ Alvin Camba, Philippines, là chuyên viên về vật liệu thiết yếu tại Association of Universities, nơi ông tham gia Dự án Beacons – một sáng kiến do Bộ Quốc phòng Mỹ tài trợ tập trung vào các chuỗi cung ứng của Mỹ. Ông có bằng Tiến sĩ Xã hội học tại Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ và là chuyên viên nhiều công trình nghiên cứu quan hệ Trung Cộng – Đông Nam Á được công bố rộng rãi trên các mặt báo nổi tiếng.

Cờ Philippines

Philippines có phản ứng “thực dụng” đối với Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) của Hoa Kỳ trong tình hình căng thẳng với Trung Cộng trên Biển Đông.

Phản ứng tại Manila đối với bản Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) năm 2026 của Ngũ Giác Đài: nhìn chung, NDS mang tính thực dụng và tập trung mạnh mẽ vào lợi ích của Philippines. Việc sử dụng ngôn từ nhẹ nhàng của Tiến sĩ Alvin Camba khi nói đến Trung Cộng không vấp phải sự phản đối từ các quan chức chính phủ, các chính trị gia và các nhà hoạch định chính sách Philippines. Điều này phần lớn là do các cuộc thảo luận chính sách tại Philippines chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi tình hình an ninh thực tế tại Biển Tây Philippines (tên gọi của Philippines đối với khu vực Biển Đông của Việt Nam), các yêu cầu cần thiết về phát triển trong nước, và quan hệ hợp tác quân sự với Hoa Kỳ (vốn dựa trên Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng Quốc gia), thay vì bị chi phối bởi thuật ngữ mà Washington xử dụng.

Đồng thời, một số nhà hoạch định chính sách Philippines cũng có những sự điều chỉnh tế nhị theo hướng thực dụng hơn để còn quan hệ kinh tế với Trung Cộng. Sự thay đổi này đã được Đại sứ Philippines tại Hoa Kỳ, ông Jose Manuel “Babe” Romualdez, ám chỉ rằng những căng thẳng địa chính trị dai dẳng giữa Trung Cộng và Philippines không ngăn cản việc hợp tác kinh tế có chọn lọc giữa hai nước. Sự điều chỉnh này giải quyết nỗi lo ngại ngày càng tăng rằng Philippines đang tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực, như Việt Nam… quốc gia có ngành sản xuất nhanh chóng nhờ hội nhập sâu rộng vào “chuỗi cung ứng” toàn cầu. Hiệu quả kinh tế kém khả quan của Philippines cũng hiện rõ rệt trong lĩnh vực du lịch so với các nước láng giềng. Một trong những biện pháp đó là việc miễn thị thực 14 ngày cho người dân Trung Cộng vào du lịch Philippines được giới chức Manila nhìn nhận một cách rộng rãi là phát xuất từ động cơ kinh tế thay vì chính trị.

Tuy nhiên, với tinh thần thực dụng này không đồng nghĩa với việc nhượng bộ Bắc Kinh về  chủ quyền hay  chính trị do Trung Cộng áp đặt. Các thượng nghị sĩ Philippines thuộc nhiều đảng khác nhau đã ký một quyết định lên án  hành động đe dọa từ Trung Cộng nhắm vào Philippines nhằm bảo vệ Biển Tây Philippines. Ngoài ra, cuộc gặp được công khai giữa Đại sứ Trung Cộng tại Philippines và Thị trưởng thành phố Davao, ông Sebastian “Baste” Duterte, cũng thu hút sự chú ý và giám sát của giới chính trị Manila. Thời điểm diễn ra cuộc gặp trùng với lúc căng thẳng tại Biển Tây Philippines đang lên, làm gia tăng lo ngại về các thông điệp chính trị và các kênh gây ảnh hưởng lên giới tinh hoa của Philippines. Những lo ngại bắt nguồn từ cách Trung Cộng tiếp cận giới tinh hoa tại Đông Nam Á trước đây.

Từ Úc Đại Lợi (Australia)

4) Nước Úc hoan nghênh những thông điệp rõ ràng về Trung Cộng và sự chú trọng vào tái công nghiệp hóa.

Cờ Úc Đại Lợi

Xét về hình thức, Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) năm 2026 của Hoa Kỳ đánh dấu sự thay đổi triệt để so với các văn bản trước đây. Với ngôn từ mạnh mẽ, trọng tâm chính trị với giọng điệu đanh thép, đây là một tài liệu khác biệt so với trước; ở những khía cạnh then chốt, NDS thể hiện những bước chuyển dịch chính sách quan trọng, đặc biệt là trong quan hệ với các đồng minh châu Âu và cách ứng phó với mối đe dọa từ Nga. Hơn nữa, dù Australia liên tục khẳng định không đi theo chủ nghĩa biệt lập, tài liệu này cũng nhấn mạnh mạnh mẽ việc chuyển hướng tập trung trở lại khu vực của mình thông qua “Hệ quả Trump” (Trump Corollary) đối với Học thuyết Monroe. Tuy nhiên, xét về bản chất, văn bản NDS này vẫn duy trì nhiều yếu tố kế thừa, mang lại sự an tâm cho các đồng minh và đối tác tại khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Đối với Úc, việc xác định rõ ràng mối đe dọa từ Trung Cộng và nhu cầu răn đe thay vì đối đầu trực diện; cùng với thông điệp dứt khoát gửi tới Bắc Kinh về thế cân bằng quyền lực mà Mỹ coi là chấp nhận được trong khu vực Ấn Độ-Thá Bình Dương là những tín hiệu tích cực; điều này đặc biệt quan trọng trong tình hình Trung Cộng thường xuyên lợi dụng sự mơ hồ về chiến lược trong các văn bản chính sách trước đây. Dù vậy, việc tài liệu không đề cập đến Đài Loan hay quan điểm của Mỹ về một cuộc khủng hoảng tiềm tàng tại đây sẽ gây ra những lo ngại và bất định.

Tuy nhiên, việc thừa nhận tốc độ và quy mô của mối đe dọa từ Trung Cộng, cũng như cam kết tiếp tục ủng hộ các nỗ lực đối phó với thách thức này, sẽ được Canberra đón nhận tích cực. Yêu cầu về việc chia sẻ gánh nặng và tái ưu tiên các nỗ lực đã được thảo luận rộng rãi trong giới an ninh quốc gia suốt hơn một thập niên qua, do đó sẽ không gây bất ngờ cho các nhà hoạch định chính sách Úc. Hơn nữa, việc chú trọng tái công nghiệp hóa là xu hướng đang diễn ra tại Úc. Ngôn ngữ trong NDS sẽ chứng minh cho quyết tâm nghiêm chỉnh từ phía Mỹ. Mặc dù tài liệu này còn đơn giản và thiếu chi tiết cụ thể, nhưng ưu điểm của nó nằm ở việc gửi một thông điệp rõ ràng và quan điểm thực tế về các mối đe dọa trong khu vực cũng như trên toàn cầu. Đối với giới chức Úc, những thông điệp này sẽ được đón nhận một cách tích cực.

Những câu hỏi chưa có lời giải đáp từ Đài Loan

5) Tiến sĩ Wen-Ti Sung, người Đài Loan, là nhà nghiên cứu tại Global China Hub, thành viên của Trung tâm Nghiên cứu Australian Centre on China in the World, làm việc tại Atlantic Council. Hiện là giảng viên Đại học Châu Á và Thái Bình Dương (ANU). Là một nhà khoa học chính trị, tập trung nghiên cứu quan hệ tay ba Mỹ – Trung – Đài. Mục đích theo dõi giới lãnh đạo Trung Cộng và cộng đồng chuyên gia hoạch định chính sách tại Mỹ.

Bản Chiến lược Quốc phòng (NDS) của Hoa Kỳ để lại những câu hỏi chưa có trả lời về việc một nền hòa bình “thỏa đáng” giữa Mỹ và Trung Cộng sẽ mang lại ý nghĩa gì đối với Đài Loan!

Cờ Đài Loan

Đài Loan lo ngại sẽ bị gạt ra khỏi vành đai phòng thủ của Mỹ và bị Washington nhìn nhận nó như một quyền lợi kinh tế thay vì vấn đề an ninh.

Dấu hiệu rõ ràng nhất là bản NDS năm 2026 hoàn toàn không nhắc đến Đài Loan. Ngoài ra, ngôn ngữ trong NDS đề cập đến Trung Cộng cũng trở nên nhẹ nhàng hơn. Bản NDS năm 2018 dưới nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Trump gọi Trung Cộng và Nga là các “cường quốc xét lại” (revisionist powers); trong khi bản NDS năm 2026 không còn dùng cách gọi này nữa. Câu hỏi đặt ra là lời tuyên bố lặp đi lặp lại của Trung Cộng về việc sẽ sáp nhập Đài Loan bằng vũ lực nếu cần thiết còn được xem là hành động trật tự hiện hành hay không?

Bản NDS có đề cập đến tầm quan trọng của chiến lược răn đe bằng cách ngăn chặn đối phương đạt được mục tiêu (deterrence by denial / răn đe bằng cách ngăn chặn) và cam kết “làm rõ rằng mọi âm mưu xâm phạm lợi ích của Mỹ từ Trung Cộng sẽ thất bại.” Tuy nhiên, liệu việc bảo vệ hòa bình và ổn định tại Eo Biển Đài Loan có còn là lợi ích của Mỹ hay không?

Câu trả lời vẫn chưa rõ ràng. Bản NDS Hoa Kỳ liệt kê năm lĩnh vực mà Mỹ sẽ ưu tiên cung cấp và “sự hỗ trợ thiết yếu nhưng có giới hạn từ lực lượng Mỹ”, và Eo biển Đài Loan không nằm trong số đó.

Hơn nữa, mặc dù cam kết của NDS về việc “ngăn chặn bất kỳ ai, kể cả Trung Cộng, có khả năng thống trị Mỹ hoặc các đồng minh của Mỹ” có thể mang lại sự an tâm cho một số quốc gia, nhưng Đài Loan lại không phải là đồng minh chính thức của Mỹ theo văn bản này!

Bản NDS cũng nêu rằng mọi quốc gia cần “nhận thức được rằng lợi ích của họ được bảo đảm tốt nhất thông qua hòa bình và kiềm chế.” Vậy, liệu “sự kiềm chế” có phải là điều mà Mỹ áp dụng đối với Đài Loan?

Bản NDS cũng kêu gọi đạt được một “nền hòa bình thỏa đáng” với Trung Cộng, đồng thời khẳng định rằng một thỏa thuận như vậy—với “các điều khoản có lợi cho người Mỹ nhưng Trung Cộng cũng có thể chấp nhận và tuân thủ”—là điều khả thi. Cách diễn đạt này khơi lại nỗi lo lắng bấy lâu nay về một “thỏa thuận lớn” giữa Mỹ và Trung Cộng liên quan đến Đài Loan. Đặc biệt là khi Bắc Kinh từ lâu đã coi Đài Loan là vấn đề cốt lõi và không thể thương lượng, việc Washington tìm cách đạt được thỏa thuận dựa trên “các điều khoản mà Trung Cộng có thể chấp nhận” không mang lại sự lạc quan tại Đài Loan.

Tuy nhiên, trong khủng hoảng luôn tiềm ẩn cơ hội. Chiến lược của Đài Loan cần bao gồm ba khía cạnh. Thứ nhất, Đài Loan cần trấn an dư luận trong nước rằng việc Đài Loan này không được nhắc đến cụ thể trong Chiến lược Quốc phòng (NDS) của Mỹ không phải là dấu hiệu tiêu cực, bởi vì mối quan hệ bền chặt giữa Mỹ và Đài Loan hiện đã là một thực tế. Thứ hai, Đài Loan cần tăng ngân sách quốc phòng để chứng minh rằng Đài Bắc không phải là bên “đi nhờ” về an ninh mà đang thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Theo đó, ngân sách quốc phòng của Đài Loan dự kiến ​​sẽ đạt mức 3.32% GDP vào năm 2026, và Tổng THống Đài Loan Lại Thanh Đức đã cam kết nâng con số này lên mức 5% GDP trước năm 2030. Thứ ba, Đài Loan cần đóng góp vào chương trình nghị sự tái công nghiệp hóa của chính quyền Trump. Đài Loan cũng đã đạt được những bước tiến trong lĩnh vực này; trong tháng này, các doanh nghiệp Đài Loan đã cam kết đầu tư ít nhất 250 tỷ USD vào nước MỸ, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp bán dẫn.

Tổng hợp lại, Đài Loan đang nỗ lực phát đi tín hiệu rằng họ là một đối tượng hiện hữu, hữu ích đối với Hoa Kỳ; một đối tượng quá quan trọng để có thể rơi vào tay Bắc Kinh.

Admin https://vietquoc.org

 

Sáng Lập Đảng

Nguyễn Thái Học người Sáng Lập Việt Nam Quốc Dân Đảng

Tìm Bài Theo Tháng

Tự Điển Hỏi Ngã Tiếng Việt