Vinh danh những anh hùng dân tộc ngày 17 tháng 6 năm 1930

Nhà cách mạng Nguyễn Thái Học người bận áo trắng bên trái bước ra máy chém

Bài của phóng viên báo Le Petit Parisien là tờ báo hằng ngày đại chúng (daily popular newspaper), phát hành bằng báo giấy tại Pháp từ 1876-1944. Vào đầu thế kỷ 20, đây là tờ báo có lượng phát hành lớn nhất thế giới, với hơn 1 triệu bản mỗi ngày (theo OPenAI)

Một phóng viên của Le Petit Parisien có mặt tại hiện trường ngày 17/06/1930 tại Yên Báy tường thuật lại giây phút “chém đầu” 13 anh hùng dân tộc Việt Nam Quốc Dân Đảng. Bài tường thuật đăng lên báo tựa đề Bản tin của đặc phái viên chúng tôi 17 tháng 6, 1930) tại Yên Báy, miền bắc Việt Nam”. Bản tin đã viết:

Trời còn chạng vạng sáng…

Mọi chuyện sẽ được diễn ra tại một đồng cỏ trông như một sân đá bóng mà chung quanh có một dãy nhà một tầng, mới xây, sạch sẽ lớp lang theo kiểu nhà tây, đó là doanh trại của lính bản địa và nhà khách. Tôi (phóng viên Le Petit Parisien) đang ở một căn nhà dành cho khách. Đêm đó, tôi thức giấc nhiều lần vì có những tiếng ồn, những tiếng ra lệnh, tiếng búa đập cách chỗ tôi ở chừng 50 mét, ở đó người ta dựng cỗ máy chém đầu. Trong bộ pijama, chân mang dép tôi đi ra ngoài, thấy mấy người lính đang xếp những thùng gỗ thành một hàng dài gồm 15 thùng trong doanh trại.

Tôi hỏi:

– Như vậy là có 15 người?
– Thưa không chỉ có 13. Nhưng con số chính thức được giữ bí mật cho đến phút cuối, chúng tôi phòng hờ thêm để khỏi lúng túng vào phút chót.

Quay vào nhà, tôi nằm dài trong mùng trên tấm trải giường còn ẩm. Công việc hành xử tử tù của Pháp chuẩn bị giữa đồng cỏ như đã xong. Không còn tiếng búa đập, bóng đêm buông xuống im lặng, ngay cả côn trùng cũng im bặt!

Vài tiếng đồng hồ sau, khoảng 800 bước chân của đoàn lính khố xanh dậm chân trên cỏ. Lính của đồn binh Yên Báy xếp hình vuông vây kín bốn bề sân cỏ.

Tôi mặc quần áo ra đứng chung với đám với người châu Âu trước bức tường của trại lính. Trước mặt chúng tôi, ở phía bên kia là hai nhóm lính khố xanh và một nhóm lính Pháp. Tôi thấy dân chúng không đông lắm, đứng rải rác và trầm tư!

5 giờ kém 5 phút, đầu tiên xuất hiện một đám người đi ra từ phía nhà giam ra sân cỏ. Tôi nói đầu tiên là gồm bốn người lính Pháp cầm súng gắn lưỡi lê tuốt trần, rồi tiếp theo hai người lính khác không mang súng tiếp theo nữa là một ông già, để làm giảm nhẹ cái không khí thê lương trong bi kịch ngắn ngủi ấy, một cụ già trong áo thầy tu với bộ râu xám che trước ngực: Đó là linh mục Méchet. Cả cái đám người ấy được viên công sứ Bottini dẫn đầu. Ra đến nơi thì hừng đông đã ló dạng, có thể thấy bóng người hiện trên nền chân trời. Họ rảo bước như một đám người tập thể dục đi nhanh. Cái máy chém được đặt sát mặt đất và có một tấm ván dài cỡ một thân người đặt trước máy chém…

Những người lính bắt đầu đứng dạt ra. Một người tử tù trong áo mầu trắng xuất hiện. Thế rồi, một đao phủ thủ người Việt Nam tên Cai Công, đặt tay lên vai người tử tù và nói liên tục, khuyến khích người tử tù đến trước tấm ván chòng chành như một cái cửa sập.

– Que lui a-t-il dit? (Ông ấy đã nói gì với tử tù?)
– Il lui a dit: n’ai pas peur, on ne sent rien…(Ông ấy nói với tử tù là đừng sợ, không có cảm giác gì đâu…)

Một người bị hành hình xong, sau đó, đoàn người quay lại nhà tù để đưa người kế tiếp…

Công sứ Bottini, ngắt lời người đàn ông bên cạnh mải rít thuốc lào bằng điếu cày ghi tên án tử hình đã thực hiện tất cả 13 lần.

Hầu như mọi tử tù đều chấp nhận uống một ly rượu và nghe lời của hai vị thừa sai là hai linh mục Méchet và Dronet đã đề nghị là họ chuyển những ý nguyện cuối cùng đến gia đình. Tất cả đều đã viết một lá thư cuối cùng cho gia đình.

Chuyến tàu đêm chở 13 tử tù từ nhà lao Hỏa Lò đi đến Yên Báy

Để giữ bí mật đến giây phút chót cho cuộc xử tử, 13 tử tù đã được đưa từ nhà lao Hỏa Lò Hà Nội đến Yên Báy trên một chuyến tầu lửa trong đêm.
Cỗ máy chém cũng được bí mật chuyển đi trong đêm tối.
Cả thành phố không ai nghi ngờ gì cả.

Sáng nay, tôi vội vàng điện tín về Paris. Vì vội vàng nên không thể nói hết được.
Trước khi trời sáng, cỗ máy chém được soi sáng bằng vài ngọn đèn pin mấy người có bổn phận trông coi việc dựng máy chém nói rằng phải đợi giờ được cho phép nên những giây phút chờ đợi ấy trôi qua thật nặng nề. Trong đám chuẩn bị máy chém có một vài viên thanh tra mật thám Pháp đã cùng đi chuyến xe lửa đêm từ nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội đến Yên Báy. Trong một toa xe lửa hạng 4 (hạng tồi nhất dành cho dân nghèo nói lên chính sách phân biệt chủng tộc và giai cấp của thực dân Pháp ở Đông Dương). Họ cũng trao đổi với nhau cảm tưởng của họ về sắp lìa trần. Bốn giờ đồng hồ trong chuyến xe định mệnh, họ đã nhìn thấy những giờ phút cuối cùng của đời mình. Tử tù bị trói tay hai người với nhau, và họ đã trò chuyện thân mật với nhau cũng như nói chuyện với những người cai tù nói được tiếng Việt Nam và với linh mục Dronet (ông nói được tiếng Việt), tuyên úy nhà tù Hà nội. Ông nhận giảng giáo lý công giáo cho họ.

Chuyến đi cuối cùng của 13 Anh Hùng Dân Tộc VNQDĐ

Ngô Văn Du cho mình vô tội. Phó Đức Chính nói, như tôi phải chém tới 3 ba cái đầu mới vừa tội; so với cái đầu của anh Du là quá nhiều.
Hai tù nhân khác thì ngồi trong một góc, ngồi xổm kiểu Việt Nam, im lặng, suy tư. Còn 9 người khác thì cố sức nói chuyện vui vẻ để hỗ trợ nhau thêm can đảm.
Họ nói, chúng ta sẽ được những đồng chí thân yêu của chúng ta là Ngô Hải Hoằng, Nguyễn Thanh Thuyết, Đặng Văn Lương, và Đặng Văn Tiếp ra đón ở nhà ga Yên Báy nhé! Đó là 4 người đã bị hành quyết ngày mồng 8/05/1930 tại Yên Báy.
Trong khi đó thì Nguyễn Thái Học đang trao đổi với linh mục Dronet. Nguyễn Thái Học nói:
– “Nous ne sommes pas des criminels, mais des vaincus.” (Chúng tôi không phải là những tội phạm, mà chúng tôi là những người thua trận).
– “Pourquoi voulez-vous que je me repente, je ne regrette rien.” (Tại sao linh mục lại muốn tôi phải ăn năn hối cải, tôi không hối tiếc điều gì cả).
Rồi Nguyễn Thái Học đọc lớn mấy câu thơ bằng tiếng Pháp;
“Mourir pour sa patrie. (Chết vì tổ quốc)
C’est le sort le plus beau (Chết vinh quang)
Le plus digne d’envie (Lòng ta sung sướng trí ta nhẹ nhàng)”
Đó là ba câu thơ nổi tiếng trong văn học Pháp, đã được khắc trên một mặt đài tưởng niệm những chiến sĩ bỏ mình trong cách mạng Pháp trong 3 ngày 27-29 tháng 7, 1830, đặt tại công trường Aurinque ở Aurillac (Les Révolutions du XIXe siècle, EDHIS, 1831, trang 24) và có thể tìm thấy trong cuốn Le Siége de Lyon, poème dithyrambique couronné par l’Académie de Lyon le 31 août 1825, trang 153).
Tử tù Ngọc Thịnh (Có nơi ghi là là Nguyễn Đức Thịnh) đã hỏi thăm một thanh tra mật thàm về thượng sĩ Bouhier:
– Thượng sĩ Bouhier có chết không? 
Viên mật thám nói,
– Dầu bị chém đến 30 nhát, nhưng ông ấy đã bình phục. Đó không phải lỗi của anh.
– Như vậy thì kể như tôi sẽ chết.
Người thuật lại cho tôi nghe câu chuyện trên kết luận.
– Ce sont tous des orgueilleux, ils ont crané toute la nuit. (Tất cả tử tù đều tự hào. Họ đều tỏ ra hiên ngang suốt cả đêm ấy).

9 tử tù nhận chịu lễ ban thánh thể (neuf condamnés communient)

Trước rạng đông, hai linh mục Dronet và Méchet đã thuyết phục được 9 người. Trong 9 xà lim, hai linh mục đã đổ nước trên trán họ, để chút muối trên lưỡi của 9 tử tù đã chịu lễ, có thể họ muốn kéo dài đời sống của họ thêm ít phút bằng cách chịu phép rửa tội trong lúc “lâm chung” (in extremis).

Mẹ tử tù Đào văn Nhít chào vĩnh biệt con

Le Petit Parisien ngày 19/06/1930 Số 2062 chạy tít Cuộc xử tử mười ba phiến quân Bắc Kỳ” — Trang Bìa Tờ Báo Pháp, Le Petit Parisien số 2062 phát hành vào ngày 29-06-1930 (12 ngày sau khi chính quyền thực dân Pháp xử tử hình Nguyễn Thái Học và 12 anh hùng dân tộc Việt Nam Quốc Dân Đảng). Có chụp hình của ông Đào Văn Nhít, 20 tuổi, đứng cạnh linh mục Méchet, bên kia lề đường là mẹ của tử tù Đào Văn Nhít, bị lính khố xanh giữ lại, khi bà đang than khóc lời vĩnh biệt “Ối con ơi là con ơi!”. Ở cuối con đường gần nơi đặt máy chém.
Tôi đã thuật lại, đi từ nhà tù đến chỗ hành quyết, những người tử tù tay bị trói chặt sau lưng, họ phải đi lên một con dốc. Trên con dốc này, là một bờ đê với hàng rào tre và thấp thoáng vài mái nhà tranh. Dân xóm trong những căn nhà tranh ấy tụm lại để nhìn tử tù đi lên. Đào Văn Nhít, một thanh niên 21 tuổi, hai bên có hai lính lê dương vạm vỡ xốc nách, và bỗng dưng người ta nghe thấy một giọng đàn bà.
Đó là giọng bà mẹ của ông Đào Văn Nhít muốn nói rằng:
“Oh! Hélas! Mon petit enfant!” (Ối con ơi là con ơi!)

Đất nước này là của người Việt Nam

Ra đến sân cỏ, Nguyễn Văn Cửu kêu lên
– Je veux dire quelque chose (Tôi muốn nói)
Nhưng một người lính lê dương đã bịt miệng ông lại. Một lúc sau, Nguyễn Văn Đức Thịnh vừa mới mở miệng hô:
–Việt Nam muôn…
Ông Thịnh lại bị bịt miệng. Và đến lượt những người khác cũng vậy.
– Việt Nam! Việt Nam! hô vang từ đáy lòng của 13 tử tù (Đất nước của người Việt Nam! Đất nước của người Việt Nam!)
Tôi đã được nghe tiếng kêu ấy nhiều lần và còn vẳng bên tai tôi khi tôi nhìn thấy Nguyễn Thái Học, người tử tù cuối cùng. Khuôn mặt cương nghị, với chòm râu cằm của bậc sĩ phu, ông cười với nụ cười tự nhiên không gượng ép; ông cúi chào đồng bào, và với một giọng hô mạnh mẽ, “Việt Nam muôn… và cũng bị một người lính lê dương bịt nghẹt tiếng hô của ông.

Tại sao những tử tù phải gánh hậu quả ghê gớm như vậy?

Tôi đã chứng kiến cuộc hành quyết những tử tù sáng nay, ngay buổi chiều hôm đó, tôi đã đi đến doanh trại “Binh Đoàn Yên Báy”, lên cả đồn binh và đến biệt thự của các sĩ quan Pháp, nơi còn lẩn khuất những cực hình mà họ đã gánh chịu. Một sĩ quan Pháp nói với tôi: “Trong một căn phòng tối này, tôi thấy chiến hữu của tôi, Đại Úy Jourdan, nằm dài, tay anh cầm một đèn xách điện. Tôi gỡ lấy cái đèn xách, và lay anh bạn, anh ấy đã chết”!

Trên giường này, Bouhier đã bị chém nhiều nhát. Chỗ kia, trung sĩ Darmour nằm duỗi dài ra, cả một mảng da đầu bị lột, bụng bị mổ tung, cánh tay bị chặt đứt.

Ngoài hành lang, người thiếu phụ 24 tuổi, bà Robert chứng kiến cảnh chồng mình bị chém chết trong phòng ăn. Bà Robert suốt đêm ôm xác chồng mà không muốn rời ra. Tay bà bị vấy máu chảy ra từ một vết thương bà la lên Việt Nam! Việt Nam!… Xứ Annam. Một xứ Annam tàn bạo!

Hai nạn nhân thoát chết trong vụ Yên Báy đã về đến Marseille (Le Petit Parisien, 18/06/1930)

Trên chiếc tàu thủy Amboise, chạy đường Viễn Đông sáng nay đã tới cảng Marseille. Người ta nhận thấy có hai trung sĩ Bouhier và Renaudet, hai nạn nhân đã thoát chết trong Tổng Khởi Nghĩa của VNQDĐ ngày 10/02/1930 ở Yên Báy. Hai hạ sĩ quan này đã bị thương rất nặng, cụt tay chân trong cái đêm kinh hoàng. Bouhier bị 27 vết thương, tay phải bị cụt, tay trái bị tê liệt. Còn Renaudet, tay trái bị chém một nhát. Cả hai đã kể lại với chúng tôi từng chi tiết một đã được nhà báo Louis Roubaud tường thuật trong tờ Le Petit Parisien. Nay hai thành thương phế binh và trở về nhà của họ, người thứ nhất về vùng Deux-Sèves, người thứ hai về vùng Allier.

Mật thám Pháp bao nhiêu cũng không đủ để khống chế những tội lỗi của Thực Dân Pháp

Hà Nội, báo Le Petit Parisien, ngày 20 tháng 6 năm 1930 ghi nhận:

Bài tường thuật của đặc phái viên của Le Petit Parisien chúng tôi đưa ra một số ví dụ điển hình cho thấy dù mật thám có đông bao nhiêu thì vẫn không đủ để kiềm chế. Có hằng trăm người đã bị bắt kể từ một năm nay. Và đã có 17 cái đầu đã rơi xuống kể từ khi tôi đến đây. Và chắc với sự cai trị mang tính nô lệ như thế này trong tương lai, sẽ còn nhiều cái đầu khác rơi theo không nuối tiếc.

Hôm qua đã có 128 người làm cách mạng đã được đưa xuống tầu thủy đi đày ra đảo Poulo-Condore (vùng đảo Côn Sơn). 

Có hàng ngàn điều bất công để nói mà không thể nói hết được. Vì dụ như mới đây, tôi vào trong một bệnh viện, tận mắt thấy một bác sĩ người Việt thật giỏi và một y tá trực có quốc tịch Pháp làm theo lệnh của bác sĩ. Người y tá này không có bằng cấp, không có cả văn hóa nhưng lương mỗi tháng là 400 Phật Lăng (Đồng tiền Pháp dùng lúc bấy giờ) chỉ vì người y tá này đã nhập quốc tịch Pháp. Trong khi ông bác sỉ mức lương chỉ có 230 đồng vì là người Việt Nam. Và nếu muốn có mức lương cao trong nước của mình thì ông bác sĩ này chỉ có một cách là từ bỏ quốc tịch của mình.

Cảnh những đứa trẻ bán với giá 15 đồng

Khi tôi đề cập đến đời sống khốn cùng của lớp người dân quê mà con cái họ phải đem ra chợ bán ở các tỉnh như Nam Định hay Thái Bình. Và người ta nghi ngờ lời nói của tôi là không đúng. Tôi phải viện dẫn lời chứng của bác sĩ Rougier, vị bác sĩ người Pháp này ở nhà thương Nam Định đã cùng sống ở đất nước này từ 20 năm nay. BS Rougier cho biết việc bán trẻ con là chuyện thường ngày không ngừng. Nhưng năm nay thì việc bán trẻ con nhiều hơn tại các vùng như Nghĩa Hưng.

Các bà sơ truyền giáo đã mua cả 30 đứa nhỏ mà giá trung bình là 1 đồng rưỡi mỗi đứa. Phải nói thêm rằng tục bán trẻ con thế này còn đỡ độc ác hơn là vứt cho các cơ sở xã hội công cộng. Vì rằng nếu đứa nhỏ được các bà sơ mua thì chắc chắn sẽ được cho ăn uống đầy đủ, học được một nghề, mẹ nó có thể đến thăm nó lúc nào cũng được. Nếu nó một gia đình người bản xứ mua, nó sẽ trở thành con cái của gia đình người mua nó. Những gia đình người Việt Nam không có con trai nối dòng, mua những đứa trẻ trai để nó sau này thành con trưởng. Sau khi người cha trong gia đình chết đi, nó sẽ đốt hương và cúng giỗ trước bàn thờ tổ tiên.

Tôi xin lỗi về những điều vừa được trình bày trên. Việc bán trẻ con, nhất là sau nhưng vụ tai ương như mất mùa, lụt lội ở nhà quê là điều mọi người đều biết cũng như tại các phố như Catinat hay Paul-Bert. Vậy chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Sự thật thì không có gì nguy hiểm cả. Người ta chỉ có thể chữa lành căn bệnh sau khi đã chẩn bệnh. Điều nguy hiểm chính là là sự im lặng.

Tôi sẽ chỉ là một phóng viên bình thường và một người Pháp xấu xa nếu tôi định bệnh của Đông Dương chỉ có thể chữa trị bằng sự mổ xẻ sâu sắc rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp trên mảnh đất Việt Nam này.

Như kết luận.

Hà Nội 19 tháng 6.

Trong vài tuần lễ, tôi sẽ hoàn tất thu tập những dữ kiện bằng cớ về cuộc điều tra mà tờ Le Petit Parisien đã giao cho tôi phụ trách ở Đông Dương này. Tôi có tổng hợp chúng lại và cố gắng bằng một ít lô gích, một chút thiện chí để có thể làm rõ câu chuyện thêm một chút.

Nhưng tôi cảm thấy thật ngại ngùng để tiếp tục công việc làm khiêm tốn của tôi và tôi có cảm tưởng những bài tường thuật đầu tiên của tôi đã được in ra từng ngày đã không được độc giả đón đọc như những gì tôi đã viết ra. Nghĩa là bạn đọc có những phê phán trước về một kết luận mà chính tôi chưa được biết.

Nhiều người ở thủ đô đã quá đơn giản hóa vấn đề Đông Dương. Người thì đặt vấn đề vì luật pháp quốc gia hay vì nhiệm vụ nhân đạo mà chúng ta cai trị đất nước này. Và một số khác cho rằng để bảo đảm các cho các nghĩa vụ và quyền hạn này, chúng ta chỉ phải đối đầu với một kẻ thù duy nhất: chủ nghĩa cộng sản.

Những loại người thứ nhất đã không hiểu rằng những công việc chúng ta làm ở đây đã và đang tiếp tục có lợi cho những đối tượng khiêm tốn nhất hoặc những người Pháp được bảo vệ. Và họ cũng không hiểu rằng chính sách của chúng ta khi thành lập liên bang Đông Dương là cần thiết cho hòa bình trên thế giới.

Loại người thứ hai nhận xét đúng rằng các phong trào chống đối này do sự chỉ đạo của Đệ tam Quốc tế. Thử tưởng tượng rằng chỉ cần truy tầm ra những gián điệp của Moscow và làm tê liệt đầu não, tay chân của chúng sẽ chữa lành căn bệnh cách mạng ở Việt Nam. Và khi đã tìm ra giải pháp dùng các lực lượng cảnh sát, họ tin rằng họ đã có giải xong bài toán chính trị ở Việt Nam.

Nhưng giải pháp an ninh bằng cảnh sát là không đủ.

Tôi cũng đã ra thăm Huế. Các vua chúa Việt Nam thực sự sống sau khi họ chết. Họ đều muốn, trong trong cuộc đời ngắn ngủi trong cung điện, thấy sự vĩnh hằng bằng cách xây lăng tẩm cho riêng họ.
“Le coeur de l’Annam bat dans les mausolées.” (Trái tim của người Việt Nam đập trong các lăng tẩm ấy.)
Ở đất nước này người chết luôn theo phù hộ cho người còn sống!?

Sưu tầm của htts://vietquoc.org

Sáng Lập Đảng

Nguyễn Thái Học người Sáng Lập Việt Nam Quốc Dân Đảng

Tìm Bài Theo Tháng

Tự Điển Hỏi Ngã Tiếng Việt