Tình hình nội bộ nước Mỹ
Một buổi họp của Quốc Hội Hoa Kỳ
Có một điều chắc chắn rằng: không một nước nào dám tấn công Hoa Kỳ về quân sự lẫn kinh tế trong thời buổi hiện nay. Có chăng, chỉ có những kẻ khủng bố liều mạng như trong biến cố 9/11 cách đây 15 năm. Thế rồi sớm muộn gì, họ cũng bị đền tội như Bin Laden đã bị giết ở Pakistan…
Dân Mỹ không sợ giặc đến từ bên ngoài mà đang lo ngại nội bộ. Họ đang chứng kiến sự chia rẽ giữa hai đảng chính trị Cộng hòa và Dân chủ thành hai phe đối nghịch nhau trong tất cả mọi vấn đề của nước Mỹ.
Xin nói rằng, đối lập là điều tốt trong sinh hoạt dân chủ nhằm ngăn chặn độc tài phát sinh. Nhưng đối lập để đi đến chia rẽ tạo nên phe nhóm trong nội bộ là một tai họa khôn lường đối với sinh hoạt chính trị.
Hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ là mô hình chính trị dân chủ lưỡng đảng mà nhiều quốc gia trên thế giới mong muốn được như vậy. Hình thức dân chủ lưỡng đảng đó đang đe dọa xã hội Hoa Kỳ. Trong gần mấy thập niên lại nay, những quyết định tại Quốc hội Hoa Kỳ chia thành hai phe rõ rệt. Trước một vấn đề cần đưa ra quốc hội biểu quyết, những dân cử không đứng trên quyền lợi quốc gia để xem xét kỹ lưỡng, mà họ tích cực bảo vệ quan điểm chính trị của đảng mình một cách quyết liệt như ngựa thồ bịt mắt. Hiện tượng như vậy là không lành mạnh về chính trị dân chủ và bị xem là chính trị phân cực (political polarization). Nó đưa đến những hậu quả tai hại như chúng ta thường thấy xảy ra trong quốc hội Hoa Kỳ trong những năm gần đây:
- Quốc hội bế tắc trong việc thông qua ngân sách của quốc gia. Nguy cơ chính phủ bị đóng cửa (government shutdown) thường xảy ra trong những năm gần đây!
- Việc bổ nhiệm thẩm phán vào Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ rất khó khăn.
- Việc thông qua các chức bộ trưởng trong nội các mới thường gây tranh cải gay gắt kéo dài. Nhiều thượng nghị sĩ của đảng đối lập vạch lá tìm sâu về đời tư cá nhân của ứng viên hơn là đặt ra những câu hỏi để tìm hiểu ứng viên có đủ kiến thức và bản lãnh để giải quyết công việc hay không.
- Người Mỹ dần dần bị mất niềm tin vào định chế chính trị họ đang sống;
- Dân Mỹ chỉ theo dõi các nguồn tin phù hợp với quan điểm của mình; phát lờ những nguồn tin trái chiều.
- Các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ cũng chọn phe để đưa tin tức không trung thực đến quần chúng, đánh mất thiên chức của “truyền thông khách quan”. Sự chia rẽ trong ngành truyền thông Hoa Kỳ càng ngày càng lớn. Mỗi cơ quan truyền thông bênh vực cho một xu hướng chính trị của mình.
- Mỗi đời Tổng thống lên ngôi thì lập tức ký một loạt sắc lệnh đi ngược với nhiệm kỳ Tổng thống trước. Ngày đầu tiên của Joe Biden, ông ta mãi miết ký những sắc lệnh hành pháp (Executive Orders) trái ngược với những điều của TT Trump trong nhiệm kỳ đầu. Đến khi TT Trump lên nhậm chức kỳ 2, cũng ký những sắc lệnh hủy bỏ nhiều đạo luật thời Joe Biden. Điều này khiến các nhà đầu tư quốc tế khó dự đoán chính sách đường dài của Hoa Kỳ, cho nên họ sẽ rút quỹ đầu tư ra khỏi nước Mỹ để tránh tiền đầu tư bị gián đoạn.
- Đối với đồng minh: sự đối đầu giữa hai đảng tiếp tục kéo dài như tình trạng hiện nay thì các đồng minh của Hoa Kỳ lo lắng rằng những cam kết của Mỹ sẽ không ổn định. Sau một kỳ bầu cử Tổng thống thì có thay đổi làm tổn hại đến chiến lược lâu dài của các đồng minh đối với các hiệp ước dài hạn về quốc phòng, thương mại, kinh tế, không duy trì liên tục.
- Đối với các đối thủ của Mỹ như Trung Cộng và Nga, lợi dụng khai thác triệt để mâu thuẫn trong nội bộ Hoa Kỳ để làm cho nước Mỹ suy yếu dần.
Có hy vọng để giải quyết tình trạng đang chia rẽ không?
Có, nhưng không dễ…
Tình trạng chia rẽ giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ nay đã đến lúc báo động. Là một khúc quanh nguy hiểm trong lịch sử Hoa Kỳ, cần phải nhanh chóng điều chỉnh để hóa giải (hóa giải – không phải hòa giải) trước khi quá muộn, có thể dẫn đến tình trạng tệ hại như xảy ra nội chiến chẳng hạn!
Lịch sử nước Mỹ đã từng trải qua những giai đoạn chia rẽ trầm trọng trước đây. Đáng kể nhất là giai đoạn trước khi có nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865). Nước Mỹ đã trải qua một giai đoạn political polarization kéo dài gần 30 năm. Lần đó, không những là sự bất đồng chính kiến giữa hai đảng mà còn là sự chia rẽ giữa hai mô hình kinh tế bênh và chống sự hiện diện của chế độ “nô lệ”. Nhiều nhà sử học xem đây là một trong những thời kỳ chia rẽ nguy hiểm nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Không khí chính trị lúc đó không những có tranh cải căng thẳng trong Quốc hội mà còn bùng phát bạo lực tại một số tiểu bang. Năm 1856, tại tiểu bang Kansas xảy ra xung đột đẫm máu giữa phe ủng hộ và chống chế độ nô lệ, được gọi là Bleeding Kansas (Kansas đẫm máu). Cùng năm, Thượng nghị sĩ (TNS) Preston Brooks (Dân Chủ South Carolina) dùng gậy đánh trọng thương TNS Charles Sumner (Cộng Hòa Massachusetts) trong phòng họp Thượng viện Hoa Kỳ vì bài phát biểu chống chế độ nô lệ của TNS Sumner. Như vậy, tranh luận chính trị vượt khỏi nghị trường gây ra nội chiến với 750,000 sinh linh đã nằm xuống.
Người có tinh thần hóa giải lớn nhất đối với sự chia rẽ lịch sử này là Tổng thống Abraham Lincoln, nhưng những ý tưởng hóa giải của ông thật sự chỉ có sau khi nội chiến và Tổng thống Lincoln bị ám sát trước khi hoàn tất hóa giải chia rẽ của nước Mỹ.
Sự phân hóa sâu sắc lần thứ hai được lặp lại trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Hầu hết các nhà sử học cho rằng chiến tranh Việt Nam là một trong những giai đoạn gây chia rẽ sâu sắc nhất trong xã hội Hoa Kỳ của thế kỷ XX. Tuy nhiên, mức độ chia rẽ không vượt qua ngưỡng gây nên nội chiến như Bleeding Kansas; Hoa Kỳ chưa xuất hiện xung đột vũ trang giữa các tiểu bang chống lại liên bang. Điều nguy hiểm nhất về sự phân cực trong chiến tranh Việt Nam là đánh mất niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Chính quyền Hoa Kỳ.
Mỹ phải trải qua ba đời Tổng thống để hóa giải những chia rẽ sâu sắc: TT Gerald Ford (1974–1977), kêu gọi hàn gắn vết thương chiến tranh với câu nói nổi tiếng trong ngày nhậm chức “Our long national nightmare is over / Cơn ác mộng [chia rẽ] kéo dài của đất nước chúng ta đã qua”. Tổng thống Jimmy Carter (1977–1981) kêu gọi hòa giải phân hóa trong xã hội và Tổng thống Ronald Reagan (1981–1989), kêu gọi khôi phục niềm tự hào quốc gia. Xóa tan vết thương chiến tranh.
Nhiều nhà sử học cho rằng TT Reagan có ảnh hưởng lớn nhất trong việc hóa giải sự chia rẽ do chiến tranh Việt Nam gây ra.
Dù rằng, sự phân hóa ở mỗi một thời kỳ nó có một hình thức phân cực khác nhau, với những nguyên nhân khác nhau, nhưng tựu trung có chung ở một điểm chung là “sự chia rẽ” giữa đảng Cộng Hòa và Dân Chủ; lần này, thậm chí trong bài đọc Thông Điệp Liên Bang của Tổng Thống Trump, các dân cử Đảng Cộng Hòa đứng dây võ tay hoan hô vang dội, trong khi các dân cử đảng Dân Chủ thì ngồi im bất động (như chống đối ngầm) từ đầu đến cuối. Đủ thấy, lưỡng đảng chủ yếu xem lập trường phe nhóm của Đảng mình còn trên quyền lợi của quốc gia. Từ mức độ đối nghịch, tranh cải trong nghị trường đi đến bạo động trong xã hội, đó là tiến trình tất yếu, dù không biết xảy ra lúc nào. Hiện nay đã thấy rõ ràng rằng đã xuất hiện tại Quốc Hội Hoa Kỳ trong những lần bỏ phiếu thông qua một vấn đề gì liên hệ đến tài chánh, xã hội và chiến tranh. Các cơ quan truyền thông và các trang mạng xã hội đều có chung một kết cục là “chia rẽ”.
Trong những ngày tới, mức độ chia rẽ sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như kết quả bầu cử, tình hình kinh tế, vai trò của truyền thông và mạng xã hội… đóng góp rất lớn vào khả năng các lãnh đạo của cả hai đảng tìm được tiếng nói chung về những vấn đề lợi ích quốc gia. Hiện nay, không có những điều gì chắc chắn để kết luận rằng sự đối nghịch sẽ tăng lên hoặc giảm đi, nhưng nếu các bên tăng cường hợp tác lưỡng đảng ở những lĩnh vực có đồng thuận rộng, tác động tiêu cực của sự chia rẽ có thể được giảm bớt.
Rồi đây, nước Mỹ sẽ có những vị ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ lấy đề tài chính là “Đoàn Kết” để làm khẩu hiệu tranh cử. Rất mong các nhà dân cử Hoa Kỳ vượt qua giai đoạn đối đầu lưỡng đảng để có một suy nghĩ khách quan về quyền lợi của nước Mỹ hơn là sự thắng/thua giữa hai đảng.
Hoa Kỳ, ngày 2 tháng 7 năm 2026
Lê Hoành Sơn

