Mỹ-Trung Cộng-Đài Loan trong thế cuộc hiện nay!
1) Vài nét lịch sử Đài Loan
Đài Loan là đảo lớn thứ 38 trên thế giới. Diện tích vào khoảng 36,000 km². Thủ đô của Đài Loan là Đài Bắc. Dân số khoảng 23.5 triệu người; nằm giữa biển tách rời khỏi lục địa Á-Âu. Quốc đảo này có quốc hiệu là Trung Hoa Dân quốc, có đường biên giới duy nhất bằng biển giáp với Trung Cộng, với chiều rộng chừng 126 cây số.
Dân số Đài Loan phần lớn là người Hán tộc đến từ lục địa Trung Hoa, Hồng Kông, Đông Nam Á cùng số thổ dân đã ở trên đảo từ thời kỳ cổ đại. Khi người Hà Lan đến cai trị, người Trung Hoa từ tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến ở đại lục bắt đầu tới Đài Loan để buôn bán.
Vào năm 1895, triều đại Nhà Thanh Trung Hoa thất trận trước Nhật Bản nên phải ký Hiệp ước Shimonoseki nhượng đảo Đài Loan cho Nhật. Vào năm 1945, khi Nhật đầu hàng Đồng Minh trong Thế chiến II, Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo lấy lại chủ quyền của đảo này.
Trong cuộc nội chiến Quốc/Cộng, Tưởng Giới Thạch thua Cộng sản Mao Trạch Đông vào tháng 12 năm 1949. Mao chiếm Hoa Lục. Tưởng Giới Thạch di chuyển ra trấn giữ được Đài Loan và biến nó thành quốc đảo. Trong suốt thời Chiến Tranh Lạnh, Đài Loan được Liên Hiệp Quốc nhìn nhận là đại diện hợp pháp của Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc, đồng thời là một thành viên trong Hội đồng Bảo an LHQ.
Đến năm 1971, Trung Cộng giành được đại diện Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc; Đài Loan bị cô lập về ngoại giao và kinh tế trên thế giới.
Trong biến cố mất mát to lớn này vào những năm cuối của thế kỷ thứ 20, Đài Loan tập trung phát triển kinh tế và cải cách dân chủ; lấy Học thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên làm nòng cốt. Nền kinh tế Đài Loan từ thập niên 1970 trở đi phát triển rất nhanh, ngày nay công ty TSMC tạo nên kỳ tích “semiconductor” cho Đài Loan dẫn đầu thế giới.
Từ thập niên 1990. Đài Loan là một cường quốc kinh tế ở châu Á và là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ. Có thể cho rằng một NATO của Mỹ tại châu Á.
2) Chính sách “one China” có sự giải thích khác nhau giữ Mỹ-Trung Cộng- Đài Loan
Tìm hiểu ngọn ngành chính sách “One China”, thấy Mỹ, Trung Cộng và Đài Loan có sự giải thích khác nhau. Hay là họ cố tình giải thích khác nhau để thực hiện mục tiêu của mình.
a) Trung cộng giải thích chính sách “One china”:
Chính sách “One China”: Trung Cộng khẳng định họ không khoan nhượng đối với chủ quyền của Đài Loan. Họ xem Đài Loan như một tỉnh của Trung Hoa. Do đó, họ sẽ tấn công bằng quân sự để thống nhất Đài Loan nếu quốc đảo này tuyên bố độc lập, đồng nghĩa với việc một tỉnh ly khai.
Về đối ngoại: Trung Cộng hối thúc các nước trên thế giới, phải công nhận Bắc Kinh là đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Hoa trên trường chính trị quốc tế và đoạn giao kinh tế và ngoại giao đối với Đài Loan.
b) Hoa Kỳ giải thích chính sách “One China’ như thế nào?
Hoa Kỳ giải quyết chính sách “One China” dựa trên những yếu tố ngoại giao có tính toán như sau:
Mỹ Dựa vào 3 Thông Cáo Chung:
Ba thông cáo chung được ký kết giữa Mỹ-Đài từ năm 1972-1982, các văn kiện này cũng dùng để bình thường hóa ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, theo đó:
– Hoa Kỳ đã chính thức chuyển nhượng ngoại giao từ Đài Loan sang Trung Cộng, coi Trung Cộng là hợp pháp duy nhất tại Liên Hiệp Quốc,
– Điểm then chốt là Hoa Kỳ chưa bao giờ chính thức chấp thuận chủ quyền của Bắc Kinh đối với Đài Loan.
Mỹ dựa vào Đạo luật Quan Hệ Đài Loan (TRA/Taiwan relation Act) năm 1979:
Khi Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan ở cấp đại sứ, Quốc hội Mỹ đã lập tức thông qua Đạo luật Quan Hệ Đài Loan (TRA) nhằm duy trì một mối quan hệ không chính thức nhưng rất bền chặt. TRA quy định về mặt pháp lý rằng:
– Hoa Kỳ cung cấp cho Đài Loan khí tài và thương vụ quốc phòng để ĐL duy trì đầy đủ khả năng tự vệ. Đạo luật cũng nêu rõ rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm định đoạt tương lai của Đài Loan bằng các biện pháp phi hòa bình đều sẽ là vấn đề gây “lo ngại sâu sắc” đối với Mỹ.
Mỹ dựa vào sáu Cam kết bảo đảm từ Mỹ:
Được chuyển tới Đài Loan vào năm 1982, các cam kết rằng:
– Hoa Kỳ sẽ không ấn định thời hạn chấm dứt việc bán vũ khí cho Đài Loan,
– Không đóng vai trò trung gian hòa giải giữa Đài Bắc và Bắc Kinh.
– Không chính thức công nhận chủ quyền của Trung Cộng đối với Đài Loan.
Tứ chính sách “One China” của Mỹ được dẫn giải như vậy, nên Mỹ áp dụng chính sách “mơ hồ chiến lược” cố tình tránh né tuyên bố rõ ràng có hay không trực tiếp can thiệp để bảo vệ Đài Loan trong trường hợp Trung Cộng tấn công quân sự. Sở dĩ Mỹ mập mờ là có mục đích nhằm răn đe cả Trung Cộng lãn Đai Loan:
– Ngăn chặn Trung Cộng xâm lăng Đài Loan vì Bắc Kinh không thể chắc chắn Mỹ sẽ đứng ngoài cuộc chiến.
– Nó cũng dùng để ngăn chặn Đài Loan tuyên bố độc lập vì họ không thể chắc chắn Mỹ sẽ tham chiến khi Trung Cộng tấn công Đài Loan.
c) Đối với Đài Loan vê chiến lược “One China”,
Đài Loan không có một cách hiểu thống nhất về chiến lược “One China”. Quan điểm của ĐL lấy dân làm gốc. Phụ thuộc vào đảng chính trị tại quốc đảo này do dân bầu lên. Tuy nhiên, điểm chung của người dân Đài Loan trong những năm gần đây là không chấp nhận tuyên bố của Trung Cộng có chủ quyền đối với Đài Loan (điều này phù hợp một phần với “One China” của Mỹ đã đưa ra).
Có nhiều người cho rằng Trung Cộng sẽ tấn công Đài Loan vì nhiều lý do này nọ và đưa ra luận cứ để thuyết phục sự việc. Tuy nhiên, hiện nay, Trung cộng tấn công Đài Loan đồng nghĩa với việc phá sản, do những hậu quả nhất định:
a) Thương mại của Trung Cộng bị gián đoạn:
Trước hết, phải hiểu rằng Trung Cộng dùng xuất khẩu (chuỗi cung ứng) để phục vụ cho đời sống của 1.4 tỉ người khỏi đói và phát triển đất nước. Nếu Trung Cộng chủ động tấn công Đài Loan, họ sẽ bị quốc tế kết tội là nước xâm lăng, Đầu tiên, thương mại giữa Mỹ và Trung Cộng lập tức cắt đứt. Úc, Nhật Bản, Nam Hàn và các nước tự do châu Âu và châu Á sẽ chấm dứt giao thương với Trung Cộng, Liên Hiệp Quốc sẽ lên án Trung Cộng xâm lăng và đồng ý trừng phạt kinh tế nước này như đã trừng phạt nước Nga xâm lăng Ukraine. Những điều đó sẽ khiến Trung Cộng khánh kiệt nền kinh tế xuất khẩu trong một thời gian ngắn. Đặc biệt hơn nữa, TC rất cần than đá của Úc để duy trì hoạt động của các nhà máy phát điện, nên sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn điện tại nước này. Có thể nhiều thành phố của Trung Cộng sống trong tối om do không có điện như Cuba hiện nay.
b) Eo biển Malacca thành thần chết của Trung Cộng:
Với Hoa Kỳ, tránh đối đầu ở lúc ban đầu của cuộc chiến, đó cũng là đặc tính chiến tranh của Mỹ (như Đệ I và Đệ II thế chiến, họ tham chiến sau). Tuy vậy, trong lúc chờ đợi nhảy vào cuộc chiến, Mỹ muốn sức mạnh của Trung Cộng bị suy yếu mà không tốn “một binh, một tốt”, đó là phong tỏa Eo biển Malacca – một eo biển cung cấp hầu hết lương thực và năng lượng trên thế giới được chở bằng tàu thủy đến Trung Cộng. Với cách đó, có thể gây thiệt hại to lớn cho Trung Cộng mà tránh đụng độ quân sự trực tiếp lúc đầu.
c) Chip semiconductor có phải là nguyên nhân nhân tham chiến? Coi chừng “ bé cái lầm”:
Vấn đề chính mà Mỹ quan tâm không phải là “semiconductor” của TSMC, mà chính là khả năng Trung Cộng tiếp cận Biển Thái Bình Dương. Có nhiều luận điểm cho rằng “TSMC là lý do khiến Mỹ bảo vệ Đài Loan”. Đó là nhận định sai chết người vì những lý do sau:
– Các loại vũ khí mới nhất của Mỹ không dùng những chip tối tân nhất của TSMC hiên nay, mà dùng các loại chip được chế tạo tại các công ty quốc phòng tại Mỹ nhằm bảo đảm dữ liệu trong bộ nhớ các hỏa tiễn và bom đạn một cách chắc chắn. Nó phải được chế tạo với độ tin cậy cao nhất. Thẳng thắn mà nói, hỏa tiễn và hệ thống điện tử không cần đến loại chip tối tân của TSMC hiện nay để hoạt động mang tính tối ưu. TSMC với công nghệ dân sự luôn đi trước quân sự. Như chip dùng trong điện thoại thông minh và những máy tính xử dụng những chip tối tân sản xuất từ TSMC để dùng vào thương mại chứ không phải dùng cho Hỏa Tiễn Patriot hay tàu ngầm quân sự tại Mỹ…
c) Mặt khác, nếu Trung Cộng chiếm được TSMC còn nguyên vẹn thì cũng “đưa mắt đứng ngắm mà thôi”, không thể làm gì được! Chip của TSMC ở Đài Loan được làm bởi hóa chất của Nhật, máy móc chế biến tinh vi của Hà Lan; thiết kế của Hoa Kỳ. Nếu thiếu các nguồn cung ấy do lệnh trừng phạt, nhà máy TSMC của Trung Cộng sẽ “chết đứng”. Chưa kể, toàn bộ nhà máy TSMC có thể dễ dàng bị phá hủy trong chiến tranh, như Đài Loan từng tuyên bố rằng họ sẽ không để TSMC rơi vào tay Trung Cộng trong tình trạng nguyên vẹn. Như vậy, tầm quan trọng của TSMC trong một cuộc xung đột tại Đài Loan chủ yếu dùng cho kinh tế chứ không phải quân sự.
Đài Loan chỉ đóng vai trò là cửa ngõ ra Thái Bình Dương đối với Trung Cộng là chính.
Do những lý giải trên, chuyện Trung Cộng tấn công chiếm Đài Loan trong tương lai gần khó có thể xảy ra. Trong tương lai xa, nếu Trung Cộng chạy kịp hoặc vượt lên quân sự của Mỹ thì điều gì xảy ra, chúng ta nên chờ. Hiện nay, Trung Cộng chỉ bí mật nhúng tay vào nhiều nơi như Ukraine và Iran để làm suy yếu năng lực của Mỹ, tham vọng thay vị thế siêu cường của Mỹ.
Hoa Kỳ, ngày 26 tháng 7 năm 2026
Lê Thành Nhân

