Đảng Kỳ VNQDĐ

Đảng Kỳ Việt Nam Quốc Dân Đảng

Tìm Bài Theo Tháng

Huyền Thoại “Thiên Tài Không Bằng Cấp”

Lý Đông A, nhà cách mạng, nhà tư tưởng chính trị cận đại, người sáng lập Đại Việt Duy Dân Cách Mạng Đảng tại Hoà Bình (cách phía Nam Hà Nội chừng 73 cây số) vào năm 1943 đã viết:
Nuôi tâm thiên tài / Nuôi chí nhân tài / Nuôi thân nô tài Nhữngh vĩ nhân dưới đây là những người “nuôi tâm” – Phải có TÂM lớn mới có thể thành thiên tài được. Như đại thi hào Nguyễn Du đã viết “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Chúng ta cùng ôn lại những thiên tài,  nhưng thiếu “bằng cấp” để làm gương cho chính chúng ta và con cháu chúng ta sau này.

Họ là những nhà khoa học, nhà văn tầm cỡ, nhà chính trị lỗi lạc trong lịch sử nhân loại. Dù không có điều kiện để theo học bất cứ chương trình đào tạo chính quy nào, nhưng bằng niềm đam mê, sự ham học, và ý chí nỗ lực không mệt mỏi của bản thân, họ đã vươn lên và toả sáng như những vì tinh tú trên bầu trời lịch sử của nhân loại.

1) Frederick Douglass:

Douglas

Frederick Douglass là một trong những tấm gương tự học nổi tiếng trong lịch sử. Ông sinh năm 1818, trong một gia đình nô lệ ở Maryland. Khi còn là một đứa trẻ ông đã tự mày mò học chữ khi gia đình ông đang sống ở Baltimore, kể từ đó ông luôn tự tìm cơ hội trau dồi thêm kiến thức bằng cách đọc thật nhiều.

Vào năm 20 tuổi, ông thoát khỏi chế độ nô lệ và định cư ở Massachusetts. Tại đây ông vẫn tiếp tục con đường tự học, tự đào tạo, và sau đó ông trở thành một trong những Nhà văn, một người theo Chủ nghĩa bãi nô, có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ. 

Frederick Douglass (tên khai sinh: Frederick Augustus Washington Bailey (1818 – 1895) là nhà cải cách xã hội, nhà hùng biện, tác gia, và chính khách người Mỹ gốc Phi. Sau khi trốn thoát khỏi đời nô lệ, ông trở thành nhà lãnh đạo phong trào bãi nô, tạo được tiếng vang nhờ khả năng hùng biện đáng kinh ngạc cũng như văn tài được ông sử dụng để chống lại chế độ nô lệ. Ông là một bằng chứng sống chống lại luận cứ của các chủ nô cho rằng người nô lệ thiếu năng lực trí tuệ không thể hành động như là những công dân Mỹ độc lập.  Ngay cả nhiều người ở miền Bắc ủng hộ phong trào bãi nô cũng không thể tin nổi rằng có một nô lệ sở hữu tài năng hùng biện giỏi như thế.

Dù ông không đồng ý, Douglass là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được đề cử tranh chức Phó Tổng thống Hoa Kỳ, đứng chung liên danh với Victoria Woodhull cho đảng Equal Rights (Quyền Bình đẳng), một chính đảng nhỏ và thiếu thực tế nhưng có viễn kiến.

2) Ando Tada:

Ando Tada

Ando Tada là một Kiến trúc sư nổi tiếng người Nhật, dù ông chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào cả. Ông đã từng kiếm sống bằng nghề tài xế, làm một Võ sĩ quyền Anh, và là một thợ mộc trước khi tự học để trở thành một Kiến trúc sư. Ông đã từng một mình thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi về nghệ thuật kiến trúc, bằng cách đến thăm những công trình nổi bật trên thế giới. Năm 1969, ông thành lập Hãng kiến trúc Ando Tadao.
Công trình nhà lô ở Sumiyoshi (Azuma House), hoàn thành năm 1972, là công trình đầu tiên bộc lộ những đặc điểm kiến trúc của ông. Năm 1995, Ando được nhận giải thưởng Pritzker, và 100.000 đô la Mỹ. Ông đã tặng số tiền đó cho những trẻ em mồ côi trong cuộc động đất Hanshin.

3) Janes Goodall:

Bà Janes Goodall, một trong những nhà Hoạt động bảo vệ môi

Janes Goodall và con Tinh tinh

trường nổi tiếng thế giới, đồng thời là Sứ giả Hoà bình của Liên Hiệp Quốc, là một nhà Nghiên cứu danh tiếng người Anh trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã. Năm 1960, khi ngoài 20 tuổi, bà đã đến Kenya, châu Phi để nghiên cứu về tập tính, và đời sống của loài Tinh tinh (đười ươi). Bà đã có 40 năm sống, và làm việc ở châu Phi, và những nghiên cứu của bà Goodball được nhiều người đánh giá là “đã ảnh hưởng đến toàn thế giới nói chung, và thế giới động vật nói riêng”.. Điều thú vị về bà là phần lớn những công trình nghiên cứu Khoa học quan trọng của bà được thực hiện khi bà chưa qua một trường lớp đào tạo nào cả !

Bà Janes Goodall đã được trao tặng nhiều Danh hiệu cao quý, và giải thưởng về bảo tồn động vật hoang dã; Đại sứ Hoà bình của Liên hợp quốc năm 2002; Huy chương Benjamin Franklin vì sự nghiệp Khoa học năm 2003. Bà còn được biết đến với tên gọi “Người phụ nữ của Tinh tinh”. Như hình bà chụp với một con Tinh tinh hình như đang trò chuyện với bà Goodball.

4) Michael Faraday:

Michael Faraday

Michael Faraday là một nhà Hóa Học và Vật Lý người Anh, đã có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa. Là con thứ ba trong một gia đình nghèo có bốn người con, cậu bé Faraday chỉ có được những kiến thức cơ bản nhất từ nhà trường, nhưng bù lại cậu là một đứa trẻ ham học, và đã nổ lực tự học không mệt mỏi.

Năm 14 tuổi Faraday học việc ở một cửa hiệu sách, và trong suốt 7 năm học việc, ông đã đọc được rất nhiều sách, trong đó có sách của Isaac Watts, quyển mở mang trí tuệ, ông say mê tiến hành các nguyên lý và quan điểm trong quyển sách. Từ đó ông đã biểu lộ niềm đam mê Khoa học, nhất là trong lĩnh vực Điện năng.

Mặc dù Faraday được đào tạo ở trường rất ít, và biết ít về toán cao cấp, nhưng ông là một trong những nhà Khoa học có uy tín trong lịch sử Khoa học. Ông là vị Giáo sư Hóa học đầu tiên và lỗi lạc nhất của Viện Hoàng Gia Anh Quốc, và đã giữ vị trí này trong suốt cuộc đời.

Chúng ta từng đến trường ở bậc đại học khoa học, thường học định luật Farady. Một trong những định luật cơ bản trong điện từ trường, cho biết từ trường cộng tác với mạch điện để tạo ra sức điện động (EMF). Đó là nguyên lý hoạt động cơ bản của  động cơ điện, máy phát điện và nam châm điện.

5) Hai anh em nhà Wright:

Ngày nay, hàng triệu triệu người đi du lịch hoạc travel bằng đường hàng không từ lục địa này sang lục địa khác bằng máy bay là do hai anh em nhà Wright, Orville và Wilbur Wright, là những người đầu tiên thử nghiệm thành công làm cho máy bay bay.

Hai anh em nhà Wright

Chuyến bay đấu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17/12/1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, Tiểu bang Bắc Carolina, Hoa Kỳ. Mỗi anh em thực hiện hai chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên, do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36.5mét (120 ft).

Lần bay cuối cùng, do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và đạt được 296 mét. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12 mét, và nặng khoảng hơn 300kg, với động cơ xăng 12 mã lực. Hiện nay nó đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D.C.

Điều đặc biệt là cả hai người đều chưa từng học qua trường đào tạo Kỹ sư, hay nhận được bất cứ bằng cấp chuyên môn nào hết. Thành công của họ đến từ niềm đam mê Khoa học kỹ thuật, cộng với nỗ lực tìm tòi học hỏi không ngừng. Thiên tài của hai anh em nhà Wright đã biến giấc mơ từ ngàn xưa của loài người thành sự thật.

6) Srinivasa Ramanujan:

Srinivasa Ramanujan

Srinivasa Ramanujan là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người mặc dù không được đào tạo bài bản về Toán học lý thuyết, nhưng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nhiều ngành Toán học như: giải tích, lý thuyết số, dãy vô hạn. Ông sinh ra và lớn lên tại Erode, Tamil Nadu, Ấn Độ, và làm quen với Toán học từ năm lên 10 tuổi.

Ông bộc lộ năng khiếu đặc biệt về toán khi được tặng một quyển sách Lượng giác học cao cấp của S. L. Loney. Năm 13 tuổi ông đã thành thục quyển sách này, và bắt đầu tìm cách tự phát minh ra các Định lý Toán học. Năm 17 tuổi ông tự nghiên cứu về số Bernoulli, và Hằng số Euler-Mascheroni.

Trong quãng đời ngắn ngủi của mình (1887-1920), Ramanujan đã công bố gần 3.900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực Phương trình và Đồng nhất thức, mà ngày nay hầu hết đã được công nhận là chính xác. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu Toán học có ảnh hưởng từ các công trình của ông. 

7) Mark Twain:

Mark Twain là nhà văn khôi hài bậc nhất của Hoa Kỳ, là tiểu thuyết gia sáng tạo và hấp dẫn do nơi sinh của ông thuộc

Mark Twain

về miền đất được coi là trái tim của Hoa Kỳ, gần vùng biên giới và ngay tại bờ sông Mississippi là con sông lớn nối hai miền Bắc và Nam Hoa Kỳ.

Mark Twain có tên thật là Sam Langhorne Clemens, chào đời vào ngày 30 tháng 11 năm 1835 tại Florida, thuộc tiểu bang Missouri. Vào thời kỳ đó, cả hai tiểu bang Missouri và Kentucky đều là tiểu bang duy trì chế độ nô lệ.

Khi lên 4  tức là vào năm 1839, gia đình của Sam Clemens dọn về Hannibal, Missouri.  Dân số của thị xã này vào khoảng 1.000 người, một nửa là nô lệ và những người da đen nào không có đủ giấy tờ đều bị bắt. Nhiều người nô lệ da đen bị bán cho các đồn điền thuộc phía Nam trong các tiểu bang như Louisiana, Georgia… Sam Clemens trải qua tuổi trẻ tại thị xã Hannibal, đã từng bơi lội trên sông Mississippi, chơi đùa trong các cánh rừng hay trên các hòn đảo của dòng sông và đọc các cuốn truyện phiêu lưu mạo hiểm. Từ các phong cảnh, kinh nghiệm và kỷ niệm với dòng sông này, tác giả Mark Twain đã viết ra nhiều tác phẩm danh tiếng.

Mark Twain, một tên tuổi lớn trong nền Văn học Hoa Kỳ. Gia cảnh của ông khá chật vật và túng thiếu; năm 12 tuổi, sau khi cha qua đời vì căn bệnh viêm phổi, Mark Twain phải kiếm sống bằng nghề sắp chữ… Có thời gian ông phải bỏ học, theo nghề lái tàu để kiếm sống.

Sau đó, ông tiếp tục tự học ở các Thư viện công cộng tại những thành phố mà ông sinh sống, và bắt đầu dấn thân vào công việc của một Nhà báo. Những cuộc hành trình lênh đênh trên miền sông nước trước đó đã trở thành cảm hứng thôi thúc ông viết nên những kiệt tác như: Những Cuộc Phiêu Lưu Của Tom Sawyer, Những Cuộc Phiêu Lưu Của Huckleberry Finn, Cuộc sống trên sông Mississippi v..v…

Ông mất 21 tháng 4 năm 1910. Đặc biệt Mark Tawan sinh ra vào chính ngày sao chổi Halley xuất hiện năm 1835, và mất đúng vào lần sao chổi xuất hiện lần sau, năm 1910.

8) Steven Paul Jobs:

Steven Jobs

Steven Paul Jobs là một Tỷ phú, là ông trùm kinh doanh và Sáng chế người Mỹ. Ông là đồng Sáng lập viên, Chủ tịch, và cựu Tổng giám đốc Điều hành của Hãng máy tính Apple sản xuất hàng triệu iPod, iPhone, iPad mà thiên hạ cho là sản phẩm thời trang hiện đại khắp năm châu; ông cũng từng là Tổng giám đốc điều hành của Hãng phim hoạt hình Pixar (Hãng thực hiện nhiều giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất như: Đi tìm Nemo, Gia đình Siêu nhân, Chú chuột Đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3; sau đó ông trở thành thành viên trong Ban giám đốc của Công ty Walt Disney, sau khi Disney mua lại Pixar).

Steven Jobs sinh ra tại thành phố San Francisco, Tiểu bang California, là con nuôi của Paul và Clara Jobs. Ông theo học trường Trung học Cupertino và Homestead tại thành phố Cupertino, Tiểu bang California. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp Trung học, rồi ghi tên vào học tại Cao đẳng Reed College ở Portland, Tiểu bang Oregon, nhưng bị đuổi chỉ sau 1 học kỳ.

Mặc dù vậy, ông vẫn tiếp tục dự thính các lớp học tại Reed, trong đó có một lớp học viết chữ đẹp. Trong thời gian “học ké” đó, ông phải ngủ dưới sàn nhà của những người bạn, đổi lon nước ngọt để lấy tiền ăn, và nhận các phần ăn miễn phí mỗi tuần tại đền Hare Krishna. Sau này Jobs bày tỏ rằng: “Nếu tôi chưa từng tham dự những khoá học lẻ đó tại trường, MacPro sẽ không bao giờ có có nhiều kiểu chữ hay phông chữ cách nhau tỉ lệ cân xứng như vậy đâu na !”. 

9) Abraham Lincoln:

Là vị Tổng thống thứ 16 trong lịch sử Hoa Kỳ, có công giải phóng nô lệ. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, cha

Cựu TT Abraham Lincoln

mẹ ông là những nông dân mù chữ. Ông không có điều kiện đi học chính thức. Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các Giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Kiến thức của ông chủ yếu có được từ việc tự học, qua việc đọc mọi cuốn sách có thể mượn được, từ Kinh Thánh, đến các sách Tiếu sử, và sách Văn chương.

Ông thông thạo Kinh thánh, các Tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử nước Anh, và lịch sử Mỹ, ngoài ra, ông còn học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Ông dành nhiều thời gian đọc sách đến nỗi những người hàng xóm cho rằng: Ông cố tình làm vậy, để khỏi phải làm những công việc chân tay nặng nhọc.

Lincoln nổi tiếng nhất với vai trò gìn giữ Hợp chủng quốc, và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng, và Sửa đổi thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ về việc bác bỏ chế độ nô lệ.

Là một thiên tài, một tấm lòng nhân hậu…cả thế giới biết đến tên ông. Phải nói ông là thánh tổ của nhân quyền. 

10) Henry Ford:

Henry Ford

Nếu con bạn luôn tìm cách đối phó với việc học, mà thay vào đó là ngồi lỳ lau chùi chiếc xe máy thì đừng vội buồn. Biết đâu bé sẽ có thể trở thành Henry Ford của Việt Nam chăng ?.

Henry Ford ngày nhỏ cũng lười học và say mê sửa chữa đồ cũ, bị hỏng. Máy móc có sức quyến rũ với ông một cách kỳ dị. Năm ông mười hai tuổi, ông đã bắt chước chế tạo được một máy nhỏ chạy bằng hơi nước. Năm 28 tuổi, khi là một công nhân điện, ông quyết tâm theo đuổi chinh phục phát minh máy nổ của người Đức.

Thành công đã tới với người kiên trì bền bỉ, 5 năm sau chiếc xe hơi đầu tiên của thế giới chào đời. Tuy nó cao lồng cồng, không mui, không thắng và không chạy dật lùi được, tốc độ tối đa 30 km/giờ.

Vài năm sau, ông thành lập Công ty xe hơi Detroit, rồi Công ty xe hơi Cadillac. Tuy không được học hành bài bản, nhưng Henrry có đầu óc lãnh đạo tuyệt vời. Bên cạnh việc những mẫu xe hơi liên tục được cải tiến nâng cao chất lượng và mẫu mã với nhu cầu, và thị hiếu người tiêu dùng, Henry có chiến lược phát triển hoàn hảo.

Năm 1906 ông sản xuất được 8.400 chiếc xe; bốn năm sau, con số đó tăng lên 34.000; một năm sau nữa, nó tăng lên 78.000; và tới năm 1927 thì mỗi ngày ông sản xuất được 7.000 chiếc xe, tính ra cứ 7 giây đồng hồ, có một chiếc xe hơi ở trong xưởng ông từ từ chạy ra, để được gửi đi khắp thế giới.

11) Soichiro Honda:

Năm 1980, Soichiro Honda đã được Tạp chí uy tín “People” vinh danh là “Người đặc biệt nhất của năm”, còn thế hệ nay

Soichiro Honda

coi ông như một “Huyền thoại Henry Ford của Nhật Bản” !.

Từ tuổi thơ khốn khó đến địa vị Chủ tịch tập đoàn Honda hùng mạnh, chuyện nghề nghiệp, chuyện cuộc đời của Soichiro Honda đã trở thành huyền thoại “Thiên tài không bằng cấp” !.

Khi mới 2 tuổi, cậu bé Soichiro đã bị thu hút, và thích mày mò chiếc cối xay gió. Lớn thêm chút nữa, cậu tự “chế tạo” chiếc máy bay đồ chơi bằng tre có gắn “động cơ” làm bằng dây cao su. Cậu suốt ngày lấm lem mặt mũi do hay giúp đỡ cha mình trong xưởng, đến mức bạn bè đặt cho cậu biệt danh “Chú chồn nhọ mũi” !.

“Chú chồn nhọ mũi” này không ham thích học hành, chỉ quan tâm đến những môn kỹ thuật, và bảng điểm của cậu dở tệ. Năm 15 tuổi, Soichiro Honda bỏ học để lên Tokyo học nghề tại xưởng Cơ khí xe hơi Shokai, thắp lửa niềm đam mê cùng tốc độ mãi cho tới sau này.

Bốn năm sau, Honda đã mở Hãng sản xuất của riêng mình. Chỉ sau một thời gian ngắn, xưởng sản xuất “Doanh nghiệp một thành viên” cho ra đời xe đạp gắn động cơ. Ngay lập tức, Sản phẩm len lỏi khắp các ngõ ngách ở Nhật Bản.

Từ đây, Honda Technical Research Institute của ông đã thành công, và không ngừng phát triển. Đến năm 1948, Công ty Honda Motor Co. Ltd được thành lập, và trở thành một tập đoàn số 1 thế giới về sản xuất xe máy, đứng đầu 10 sản xuất xe hơi.

12) Bill Gates:

Bill Gate

Tại khuôn viên trường Harvard mang tên “Harvard Crimson” có một tấm biển ghi “Bill Gates là người bỏ học thành công nhất của Harvard !”, trong khi phần còn lại của thế giới vẫn gọi ông là “Người đàn ông giàu nhất thế giới” trong hơn một thập kỷ qua. Bây giờ, mặc dù không giữ vị trí dẫn đầu, ông vẫn còn trong danh sách những người giàu có của thế giới..

Gates nhập học tại Harvard vào mùa Thu năm 1973. Hai năm sau, ông ta đã bỏ học để thành lập Công ty Microsoft, với người bạn Paul Allen. Sau khi thành danh, Bill Gates mới quay trở lại trường để tiếp tục sự nghiệp học hành. Và trong năm 2007, cuối cùng ông cũng nhận được học vị Tiến sĩ Danh dự từ trường cũ của mình…

Khi được mời phát biểu tại buổi lễ phát bằng Tốt nghiệp cho Sinh viên Havard, Bill Gates nói: “Tôi là một ví dụ xấu !. Đó là lý do tại sao tôi được mời tới đây để nói chuyện Tốt nghiệp của bạn….. Nếu gặp tôi trước khi nhập học, có thể số lượng Sinh viên chuẩn bị Tốt nghiệp có mặt ở đây sẽ ít hơn nhiều !”.

13) Frank Lloyd Wright:

Theo Kiến trúc sư nổi tiếng nhất của Mỹ, Wright đã dành nhiều thời gian hơn vào việc thiết kế các trường Cao đẳng, Đại

Frank Lloyd Wright

học, hơn là tham dự các lớp học trong đó. Sau khi dành một năm học tại Đại học Wisconsin-Madison, ông bỏ học để đến Chicago và trở thành một người học việc của Louis Sullivan, “Cha đẻ của chủ nghĩa hiện đại” !.

Trong sự nghiệp thiết kế và sáng tạo không ngừng nghỉ của mình, Wright đã tạo ra hơn 500 công trình kiến trúc vĩ đại, nổi tiếng nhất trong số đó là Fallingwater, và New York City của Solomon R. Guggenheim Museum.

14) Buckminster Fuller:

Trong suốt cuộc đời của mình, Fuller ám ảnh bởi câu hỏi liệu nhân loại có khả năng tồn tại lâu dài và bền vững trên Trái Đất không, và nếu có thì như thế nào? Tự nhận mình là một con người bình thường, không có một khả năng tài chính hoặc một bằng cấp hàn lâm nào, Fuller đã cống hiến toàn bộ cuộc đời ông để trả lời câu hỏi trên, cố gắng tìm ra câu trả lời: một cá nhân bình thường như ông có thể làm gì để cải thiện điều kiện tồn tại của loài người, điều

Buckminster Fuller

mà những tổ chức lớn, những chính phủ hoặc những tập đoàn tư bản không thể thực hiện được. Ông nghiên cứu đồng thời từ nhà ở, ô tô, thuyền, các trò chơi, các thiết bị truyền tin và vòm trắc đạc…Tất cả những đối tượng đó nhằm mục đích duy nhất là sao cho có thể sản xuất được ở số lượng lớn với những phương tiện đơn giản nhất và bền vững nhất có thể. Triết lý của ông là “Nhiều hơn cho ít hơn” (more for less).

Theo đuổi thí nghiệp của đời mình, Fuller đã viết 28 cuốn sách, phát minh ra những khái niệm như Tàu vũ trụ Trái Đất (spaceship earth), thích nghi đột biến (ephemeralization) và phát sinh đột biến không dự báo (synergetics hoặc negentropy) Ông cũng là tác giả của một loạt các phát minh hầu hết trong tạo hình và kiến trúc, nổi tiếng nhất là kết cấu vòm hình tượng.

Vào cuối đời mình, sau vài thập kỉ làm việc dựa trên lý thuyết, Fuller đã trở nên nổi tiếng. Ông đi vòng quanh thế giới 46 lần để giảng bài, nói chuyện và nhận được 54 bằng Tiến sĩ danh dự và là ứng cử viên cho giải thưởng Nobel hòa bình năm 1969. Tuy nhiên, hầu hết các phát minh của ông đều dừng ở lý thuyết và chưa bao giờ được ứng dụng vào thực tế, ông cũng bị chỉ trích mạnh trong hầu hết các lĩnh vực mà ông có ảnh hưởng như kiến trúc, hoặc ông đơn giản bị bỏ quên như một con người không tưởng. Những phát minh của ông cũng cho thấy người ta đã chưa đánh giá đúng mức và xứng đáng với giá trị của nó.

Ong Fuller bị trục xuất khỏi trường Đại Học Harvard hai lần, Kiến trúc sư đồng thời là nhà Phát minh vĩ đại người Mỹ Buckminster Fuller đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, biến cố. Một số ý tưởng kinh doanh ban đầu thất bại, và trải qua nỗi đau đớn của việc mất đi cô con gái đầu lòng, ông tưởng chừng như không thể gượng dậy nổi !.

Tuy nhiên, ở tuổi 32, cuộc sống của Fuller bắt đầu thay đổi. Những ý tưởng sáng tạo của ông như các thiết bị ghép năng động áp dụng cho nhà ở, và cả xe hơi nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ công chúng. Đặc biệt là kết cấu xây vòm hình tượng của ông đã đưa tên tuổi của ông lên cao, và được quốc tế công nhận.

15) Mark Zuckerberg:

Mark Zuckerberg

Bỏ học ở Harvard, Mark Zuckerberg phát triển Facebook trong ký túc xá trường mình. Bây giờ Facebook đã trở thành một trong những trang web phổ biến nhất trên thế giới mạng xã hội. Theo sự bùng phát của Facebook, Zuckerberg đã bỏ học để di chuyển địa điểm Công ty của anh đến California.

Mark Zuckerberg đã chứng minh rằng: Quyết định của anh là sáng suốt. Theo Forbes, Zuckerberg là Tỷ phú trẻ nhất thế giới, với trị giá tài sản năm 2010 là 4 tỷ USD. Tuy nhiên, mới đây Ông chủ Facebook nhận Bằng tốt nghiệp Harvard sau 12 năm bỏ học.

Thế giới ngày nay ai cũng biết Mark Zuckerberg, người sáng chế Facebook mà từ hang cùng ngõ hẻm đều xử dụng.

Admim Vietquoc.org 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedinmail